Các chính sách và biện pháp để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Từ tìm hiểu cấu trúc chuỗi cung ứng và các yếu tố chi phối sự phát triển của chuỗi, có thể nhận ra cần có các chính sách và biện pháp sau đây thì quốc gia mới có thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu:

Thứ nhất, phát triển cơ sở hạ tầng để cải thiện hoạt động thương mại, tạo điều kiện giảm chi phí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Vai trò của cơ sở hạ tầng logistics đối với chuỗi cung ứng toàn cầu liên quan đến các yếu tố sau:
(a) Kho chứa,
(b) Chuyển hàng từ địa phương này tới địa phương khác trong nước,
(c) Chuyển hàng từ nước này sang nước khác,
(d) Vận tải (đường bộ, đường sắt, hàng không, hàng hải),
(e) Hạ tầng CNTT và thông tin liên lạc,
(f) Thuê ngoài,
(g) Đổi mới-sáng tạo,
(h) Chính sách của chính phủ (tạo thuận lợi cho logistics thế nào, cho innovation thế nào, chính sách thương mại).

Để cải thiện hiệu quả của chuỗi cung ứng, cần phải tập trung phát triển cơ sở hạ tầng phần cứng và phần mềm như đường xá, cảng biển, sân bay, cơ sở hạ tầng viễn thông, thủ tục hải quan….Trong chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng là hoạt đọ̆ng bắt buộc ở mọi công đoạn, kể từ khi nhâp nguyên vặt liẹ̆u, vặn chuyển nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, vặn chuyển sản phẩm và lưu trữ kho bãi. Nhiệm vụ của cơ sở hạ tầng là đảm bảo sự sẵn có và thông suốt của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Cơ sở hạ tầng của mọ̆t nền sản xuất đáp ứng các nhu cầu, các hoạt đọ̆ng sản xuất thiết yếu của chuỗi cung ứng, đó là vặn chuyển nguyên liệu và thành phẩm, lŭu trữ và xử lý hàng hóa cũng như đảm bảo thông tin liên lạc giữa các mắt xích để tạo thành mọ̆t dây chuyền sản xuất qua các công đoạn. Thông qua các hoạt đọ̆ng nhŭ vặn tải hàng hóa, kho bãi hay lưu chuyển thông tin, cư sở hạ tầng tác đọ̆ng đến chuỗi cung ứng của doanh nghiệp

Giao thông vặn tải cũng đảm nhiệm công tác vặn chuyển xuyên suốt trong cả chuỗi cung ứng, từ việc đưa máy móc đến khai thác nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đầu vào về tập trung tại nhà xưởng, vặn chuyển hàng hóa sản phẩm qua các khâu chế biến, cho đến phăn phối hàng hóa đến các đại lý và đến tay người tiêu dùng.

Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng bởi đối với ngành công nghiệp sản xuất hiện đại, tốc đọ̆ của chuỗi cung ứng sản phẩm là một yếu tố vô cùng quan trọng – đây là điểm vượt trọ̆i định vị sự khác biệt cho doanh nghiệp, cũng có thể là nhược điểm khó khắc phục. Tốc đọ̆ chuỗi cung ứng phụ thuộc ít nhiều vào sự thông suốt của hoạt đọ̆ng cơ sở hạ tầng kết nối các thành phần trong chuỗi cung ứng. Cơ sở hạ tầng mọ̆t phần quyết định đọ̆ thông suốt trong quá trình cung ứng từ mắt xích này tới mắt xích khác, đọ̆ chính xác về thời gian chuyển thành quả sản phẩm từ khâu này sang những khâu sản xuất – phăn phối sau, từ đó mà quyết định tốc đọ̆ hoạt đọ̆ng của chuỗi cung ứng. Trong hệ thống cơ sở hạ tầng, CNTT cũng có vai trò tích cực, đóng góp tích cực vào chuỗi hình thành giá trị sản phẩm bao gồm: thu mua, phát triển sản phẩm mới, định hướng, cung ứng đầu ra và hỗ trợ marketing. Hẹ̆ thống công nghệ thông tin tiên tiến cho phép kiểm soát mạng lưới hậu cần, giao dịch tài chính, và phăn phối nước uống an toàn, dịch vụ khẩn cấp và giao thông hàng không. Không chỉ thế, trong chuỗi cung ứng tổng hợp, các hoạt đọ̆ng chức năng này được thực hiện cùng nhau. Sự yếu kém trong hạ tầng công nghệ thông tin dẫn đến sự gián đoạn về thông tin, gây ra các nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng.

Thứ hai, các chính sách liên quan tự do hoá thương mại và mở cửa kinh tế
Thực tế đã chứng minh rằng, sự tham gia của các quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu gắn liền với việc cắt giảm các biện pháp bảo họ̆ thương mại và tự do hoá thương mại. Chính phủ các nuớc tích cực tham gia đàm phán và cắt giảm thuế quan mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt là nuớc đang phát triển. Thuế quan giảm đối với hàng hóa trung gian sẽ trở thành nhăn tố hấp dẫn đầu tư từ các công ty đa quốc gia, giúp phăn bổ lại nguồn lực và tìm kiếm vị trí của mỗi quốc gia trong chuỗi giá trị. Hiện nay, các hiệp định thương mại tự do đang được coi là bước tiến mới mở ra môi trường kinh doanh quốc tế thuận lợi cho mạng lưới sản xuất, đặc biệt là thông qua mức cắt giảm thuế quan, hỗ trợ dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ.

Tự do hoá thương mại và mở của kinh tế sẽ giúp các quốc gia mở rộng các mạng lưới quan hệ, từ đó có thể hỗ trợ hợp tác lẫn nhau giữa các thành viên trong hẹ̆ thống chuỗi cung ứng, từ nhà cung cấp, doanh nghiệp sản xuất đến nhà phân phối và khách hàng. Dựa trên mối quan hẹ̆ và niềm tin, các doanh nghiệp có thể thu thập thông tin, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp cho dòng sản phẩm, dịch vụ của mình.
Mọ̆t chuỗi cung ứng linh hoạt và hiệu quả sẽ là con đường dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Khi có các mối quan hệ mở rộng với các bạn hàng, được hưởng lợi từ các chính sách thuế quan, hải quan và các chính sách tự do hoá khác, các doanh nghiệp có thể phản hồi lại nhanh chóng những thay đổi theo nhu cầu của khách hàng, đảm bảo chi phí ở mức thấp nhất và lợi nhuận mang lại ở mức cao nhất. Mọ̆t mạng lưới liên kết chặt chẽ sẽ là cơ sở để trao đổi thông tin giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và khách hàng.

Cơ hội nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước để từ đó nâng cấp khi tham gia cung ứng cho các công ty xuyên quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó đáng kể nhất là: (1) mức độ phức tạp của thông tin và tri thức được chuyển giao giữa công ty xuyên quốc gia và doanh nghiệp địa phương, (2) khả năng mã hóa thông tin và tri thức để thuận tiện cho việc chuyển giao, (3) chiến lược thuê ngoài của công ty xuyên quốc gia (hay mức độ sẵn sàng tản quyền theo chiều dọc), và (4) chiến lược học hỏi của doanh nghiệp trong nước. Trong đó, mỗi yếu tố thứ ba và thứ tư đều chịu tác động của cả hai yếu tố thứ nhất và thứ hai. Các yếu tố thứ ba và thứ tư tương tác với nhau và cùng quyết định cơ hội nâng cao năng lực và do đó nâng cấp vị trí của doanh nghiệp trong nước ở trong chuỗi cung ứng. Như vậy, không thể thụ động chờ đợi công ty xuyên quốc gia chuyển giao công nghệ và tri thức cho doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp phải nỗ lực học hỏi và tự nâng cao năng lực đổi mới-sáng tạo. Đồng thời, chính phủ ở các nước đang phát triển cần có những biện pháp tác động vào chiến lược thuê ngoài của công ty xuyên quốc gia (Nguyễn Bình Giang chủ biên, 2015).

Thứ ba, nâng cao nội lực các doanh nghiệp trong nước để tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuỗi cung ứng toàn cầu bao gồm nhiều doanh nghiệp của nhiều nước tham gia, vấn đề là sản phẩm của doanh nghiệp của một quốc gia sẽ đứng ở đầu hay ở cuối trong chuỗi cung ứng toàn cầu và sản phẩm đó có phải là then chốt, lợi thế không. Muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp cần hướng tới các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn, tạo nên giá trị gia tăng cao, đứng ở vị trí cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Phát triển và nâng cao nội lực các doanh nghiệp trong nước là giải pháp quan trọng để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.Để làm được điều đó, cần định hướng lộ trình tham gia cho doanh nghiệp trong nước, lựa chọn minh bạch những doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, hỗ trợ liên kết sản xuất doanh nghiệp nước ngoài để học hỏi và chuyển giao công nghệ. Kế đến mới là hỗ trợ vốn để mở rộng quy mô đầu tư, nâng chất hoạt động sản xuất và chất lượng quản trị… Mặc khác, cần phải xây dựng và nuôi dưỡng đội ngũ sáng tạo, tạo điều kiện để tăng kết nối và chuyển hóa công nghệ từ doanh nghiệp FDI cho doanh nghiệp trong nước.

Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một giải pháp quan trọng để giúp các doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Các chính sách phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ không những tạo công ăn việc làm và thúc đẩy chuyển giao công nghệ mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu. Công nghiệp hỗ trợ thường tập trung nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ của các quốc gia thường có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, nhưng chúng có thể được kết nối với nhau theo hai cách chính (hoặc là hàng ngang, hoặc là hàng dọc) trong chuỗi cung ứng. Sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng sẽ giúp bổ sung các mắt xích quan trọng trong chuỗi.

Để gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu thành công, khi các liên kết theo chiều dọc giữa các công ty xuyên quốc gia đã phát triển đến một mức độ nhất định ở các vùng hội tụ ngành, thì là lúc các doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phương có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng. Do quy mô, các doanh nghiệp vừa và nhỏ buộc phải bán hàng qua các trung gian. Trái lại, các doanh nghiệp lớn có thể bán hàng trực tiếp cho các nhà bán lẻ, các chi nhánh của công ty đa quốc gia cung cấp cho các hệ thống sản xuất toàn cầu. Mạng lưới mua hàng này thường rất phức tạp và các trung gian thường thu hút hết phần lợi nhuận trong một chuỗi cung ứng, đôi khi làm cản trở sự phát triển và năng lực cung cấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, để phát triển và nâng cao nội lực của doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất cần các biện pháp liên kết từ phía chính phủ nước chủ nhà trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong vấn đề vốn, môi trường đầu tư, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực để giúp các doanh nghiệp tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng để một quốc gia tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Để nâng cao nguồn lực của các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có những nhà quản lý, nhân viên năng đọ̆ng. Tùy từng loại mặt hàng mà doanh nghiệp sẽ chú trọng vào những khâu then chốt. Việc quản lý cả chuỗi cung ứng không phải là tách rời quản lý từng khâu mà phải biết tích hợp chúng trong mọ̆t hẹ̆ thống từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà kho, đến các trung tâm phân phối, cơ sở bán lẻ nhằm cung cấp hàng hóa đúng số lượng, vị trí, thời điểm. Khách hàng bao giờ cũng yêu cầu giá cả thấp nhất nhưng lại yêu cầu dịch vụ tốt nhất, do đó doanh nghiệp phải có khả năng kết nối nhu cầu với viẹ̆c cung cấp thông tin cho khách hàng. Điều này phản ánh tốc đọ̆ phản ứng trong chuỗi cung ứng. Mức đọ̆ phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng xử lý tốt và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Nguồn lực của chuỗi cung ứng không phải chỉ là giá nhân công rẻ dẫn đến giá cả dịch vụ rẻ ở các quốc gia tham gia chuỗi cung ứng, mà còn đòi hỏi phải được đào tạo từ kiến thức về luật pháp, tài chính, quản lý kinh tế và các năng lực khác để có thể giải quyết các vấn đề phát sinh trong các mắt xích tham gia của chuỗi cung ứng.