Ảnh hƣởng trực tiếp của các nhân tố đến thực hiện KTQTMT

  • Áp lực cưỡng ép

Theo khung lý thuyết thể chế đã trình bày, ALCE có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê của áp lực cƣỡng ép của chính phủ và các cơ quan chức năng liên quan đến quá trình áp dụng KTQTMT trong các tổ chức. Ví dụ như nghiên cứu của Chang và Deegan (2010); Qian và cộng sự (2011); Alkisher (2013); Jamil và cộng sự (2015); Nguyễn Thị Nga (2016); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a). Trong nghiên cứu của mình Jamil và cộng sự (2015) lập luận rằng ALCE là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến các doanh nghiệp trong việc chấp nhận và thực hiện KTQTMT. Trong bối cảnh ở Việt Nam, nếu Chính phủ và các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ các quy định về môi trƣờng hoặc có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các DN thực hiện tốt các cam kết về môi trƣờng thì có nhiều khả năng sẽ thúc đẩy các DNSX thực hiện KTQTMT.

Với các lý do trên, có thể kỳ vọng rằng ALCE của các bên liên quan có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT tại các doanh nghiệp. Do đó, mối quan hệ giữa ALCE và thực hiện KTQTMT đƣợc đề xuất trong giả thuyết sau đây:

H1: ALCE có ảnh hƣởng trực tiếp và cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.

 Áp lực quy chuẩn

Theo khung lý thuyết thể chế, ALQC ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Các nghiên cứu trƣớc đây đã xem xét vai trò quan trọng của ALQC đến từ các đơn vị giáo dục, cơ quan chuyên môn và hiệp hội nghề nghiệp trong thực hiện KTQTMT ở nhiều tổ chức (Chang và Deegan, 2010; Qian và cộng sự, 2011; Jalaludin và cộng sự, 2011; Alkisher, 2013; Nguyễn Thị Hằng Nga, 2018a). Tuy nhiên, ảnh hƣởng của ALQC đối với tổ chức có thể khác nhau giữa các quốc gia. Chang và Deegan (2010) nhận xét, tại các quốc gia phát triển, hiệp hội nghề nghiệp và đơn vị giáo dục chính thức đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hƣởng đến hành vi của các tổ chức đối với các vấn đề môi trƣờng và thực hiện KTQTMT, nhiều hơn so với các nƣớc đang phát triển. Ở Việt Nam, nếu đẩy mạnh hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục và các hiệp hội chuyên môn thì có khả năng sẽ thúc đẩy các DNSX thực hiện KTQTMT.

Nhƣ vậy, có thể dự kiến rằng thực hiện KTQTMT của các doanh nghiệp sẽ bị ảnh hƣởng bởi áp lực của các cơ quan chuyên môn hoặc cơ sở giáo dục. Giả thuyết dƣới đây thể hiện mối quan hệ giữa ALQC và thực hiện KTQTMT.

H2: ALQC có ảnh hƣởng trực tiếp và cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.

Áp lực mô phỏng

Theo lý thuyết thể chế mới do DiMaggio và Powell (1983), các tổ chức có xu hƣớng sao chép hoặc bắt chƣớc các tổ chức khác trong xã hội. Khi một thực tiễn đƣợc công nhận, hoặc đƣợc cho là tiêu chuẩn mới của ngành, các tổ chức chỉ đơn giản là mô phỏng (bắt chƣớc) làm theo, chứ không hoài nghi về giá trị của thực tiễn này. Hay nói cách khác, ALMP có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Một số nghiên cứu trƣớc đã tìm thấy ảnh hƣởng tích cực của ALMP đến thực hiện KTQTMT nhƣ nghiên cứu của Qian và cộng sự (2011); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a). Trong điều kiện Việt Nam, với truyền thống hiếu học, các DNSX cũng có xu hƣớng bắt chƣớc các hình mẫu thành công để ngày càng phát triển.

Nhƣ vậy, có thể kỳ vọng rằng ALMP có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Giả thuyết dƣới đây thể hiện mối quan hệ giữa ALMP và thực hiện KTQTMT.

H3: ALMP có ảnh hƣởng trực tiếp và cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.

Nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh

Cung cấp thông tin là một chức năng quan trọng của KTQT. Khi MTKD trở nên không thể đoán trƣớc, các nhà quản trị sẽ có xu hƣớng xử lý nhiều thông tin liên quan hơn để đối phó với những điều không chắc chắn (Gordon và Narayanan, 1984; Parker, 1997). Parker (1997) cũng đồng ý rằng cần phải thiết kế lại hệ thống KTQT truyền thống để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thông tin về môi trƣờng. Điều này có nghĩa là nếu một tổ chức trải qua mức độ biến động của MTKD cao, thì tổ chức đó có thể phải đổi mới hệ thống kế toán để đáp ứng nhu cầu cung cấp thêm thông tin, nhằm đối phó với những thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc. Các hệ thống đổi mới này (nếu có) nhằm cung cấp TTMT để quản trị chi phí và giảm thiểu tác động môi trƣờng.

Theo khung lý thuyết ngẫu nhiên đã trình bày ở mục 2.2.2, nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Một số nghiên cứu cũng tìm thấy ảnh hƣởng của nhận thức về sự biến động của MTKD đến thực hiện KTQTMT, nhƣ nghiên cứu của Chang và Deegan (2010); Qian và cộng sự (2011); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b). Nếu nhận thức về sự biến động của MTKD của các DNSX ở Việt Nam gia tăng, các DN có xu hƣớng thực hiện KTQTMT để đối phó với sự biến động này. Do đó, giả thuyết về mối quan hệ giữa nhận thức về sự biến động của MTKD đến thực hiện KTQTMT đƣợc phát biểu nhƣ sau:

H4: Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hƣởng trực tiếp và cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.

Chiến lược môi trường

Theo khung lý thuyết ngẫu nhiên, CLMT có ảnh hƣởng đến thực hiện KTQTMT. Ferreira và cộng sự (2010) nhận xét, CLMT có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc áp dụng và thực hiện KTQTMT trong các tổ chức, vì chiến lƣợc là một nhân tố quyết định quan trọng trong việc hình thành hệ thống kiểm soát quản lý (Simons, 1987; Otley, 1999) và KTQTMT là một bộ phận của hệ thống kiểm soát quản lý (Ferreira và cộng sự, 1010). Vì vậy, CLMT đƣợc dự kiến sẽ có ảnh hƣởng đến việc áp dụng và thực hiện KTQTMT (Ferreira và cộng sự, 2008). Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu tìm thấy ảnh hƣởng của CLMT đến thực hiện KTQTMT, nhƣ nghiên cứu của Ferreira và cộng sự (2010); Chang và Deegan (2010); Qian và cộng sự (2011); Christ và Burritt (2013); Alkisher (2013); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b). Nếu các DNSX ở Việt Nam, lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh hƣớng về MT thì sẽ có nhiều khả năng thực hiện KTQTMT. Giả thuyết về mối quan hệ giữa CLMT đến thực hiện KTQTMT đƣợc phát biểu nhƣ sau:

H5: CLMT có ảnh hƣởng trực tiếp và cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.

Sự phức tạp của nhiệm vụ

Nhiệm vụ của tổ chức liên quan đến loại công việc đƣợc thực hiện bởi một tổ chức (Daft và Macintosh, 1978). Lý thuyết ngẫu nhiên đề xuất rằng sự phức tạp hay khó khăn của nhiệm vụ có ảnh hƣởng đáng kể đối với thiết kế hệ thống KTQT của một tổ chức.

Hirst (1981) nhận thấy rằng khi nhiệm vụ càng phức tạp, thì thực hiện KTQTMT càng khó khăn và không đầy đủ. Các nghiên cứu của Chang và Deegan (2010); Qian và cộng sự (2011) cũng đã tìm thấy ảnh hƣởng ngƣợc chiều của nhân tố sự phức tạp của nhiệm vụ đến thực hiện KTQTMT. Ở Việt Nam, những khó khăn của việc thực hiện KTQTMT, chẳng hạn nhƣ thiếu các văn bản hƣớng dẫn thực hiện KTQTMT, hay thực hiện KTQTMT tốn quá nhiều công sức có nhiều khả năng sẽ cản trở các DNSX thực hiện KTQTMT. Giả thuyết liên quan đến nhân tố sự phức tạp của nhiệm vụ đƣợc phát biểu nhƣ sau:

H6: Sự phức tạp của nhiệm vụ có ảnh hưởng trực tiếp và ngƣợc chiều đến thực hiện KTQTMT.