Ảnh hưởng công nghệ kỹ thuật hiện đại trong nông nghiệp đối với ngành trồng trọt,chăn nuôi

Đối với ngành trồng trọt:

Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thì trong giai đoạn 2010 – 2015 đã tiến hành tuyển chọn, lai tạo nhân giống nhanh bằng công nghệ cao, sản xuất thành công một số giống mới có giá trị kinh tế và chất lượng cao cung ứng trên địa bàn như:

– Cây lúa: Tiếp nhận và làm chủ công nghệ sản xuất giống lúa. Kết quả nghiên cứu về giống lúa đã góp phần đưa năng suất lúa bình quân của tỉnh giai đoạn 2010 – 2015 cao hơn năng suất lúa của cả nước (57,7ha) từ 2,6 – 3,6 ta/ha; xây dựng thành công các cánh đồng mẫu lớn sản xuất các giống lúa chất lượng cho hiệu quả kinh tế cao, hình thành và phát triển các mô hình cơ giới hóa từ khâu làm đất, sản xuất mạ khay, cấy bằng máy đến khâu thu hoạch giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế so với sản xuất thông thường từ 6 – 7 triệu đồng/ha.

– Cây rau màu và ăn quả: Nghiên cứu áp dụng các biện pháp canh tác mới; các giống mới đã được khảo nghiệm, được kết luận phù hợp với điều kiện của tỉnh có năng suất, chất lượng, đạt hiệu quả kinh tế cao để đƣa vào cơ cấu giống của tỉnh, mở rộng sản xuất hàng hóa, cụ thể:

+ Cây rau màu: Sản xuất thử lựa chọn được 12 giống phù hợp với điều kiện của tỉnh như: cà chua ghép gốc cà tím, khoai tây Sinora, bí xanh số 1, bí xanh số 2, dưa hấu F1 super Hoàn Châu, Thúy Đào 169, dưa bở vàng thơm, ngô neepsMX10,… Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô để sản xuất một số giống cây trồng sạch bệnh, một số giống hoa quý hiếm;

+ Cây ăn quả: Nghiên cứu các áp dụng phục tráng giống, cải tạo vườn cây ăn quả kém hiệu quả bằng công nghệ ghép chổi; giống ổi, bưởi, chuối,… Duy trì và phát triển vườn cây ăn quả đầu dòng gồm hàng trăm loại cây ăn quả khác nhau. Triển khai áp dụng các kỹ thuật tiến bộ về giống, chăm sóc, bảo quản, rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch cùng với quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGap vào cây vải thiều với diện tích trên 200ha.

Đối với ngành chăn nuôi:

+ Đã thực hiện quy hoạch và phát triển chăn nuôi theo mô hình tập trung quy mô trang trại, gia trại. Hiện nay toàn tỉnh có 808 trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm; xây dựng được 7 khu chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung với quy mô từ 3 ha trở lên/ khu tại 6 huyện trong tỉnh, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Áp dụng các kỹ thuật kéo dài thời gian bảo quản tinh dịch lợn để đáp ứng yêu cầu sản xuất ở cơ sở. Đưa các giống lợn nái mới VCN 21, VCN 22 vào sản xuất nhằm tăng năng suất và chất lƣợng thịt. Các giống gia cầm mới: gà lông màu, XTP11, lƣơng phƣợng, gà mía lai, gà lai chọi, chim bồ câu pháp; giống vịt siêu thịt C.M, M3, Heavy,… đƣợc phổ biến cho hàng ngàn nông dân áp dụng.

+ Ứng dụng công nghệ sinh học thông qua việc lựa chọn ứng dụng thành công một số chế phẩm sinh học xử l chất thải hữu cơ như công nghệ Fithooc mon để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phân thải trong chăn nuôi và phế thải đồng ruộng, đặc biệt là rơm rạ dư thừa…

Ngoài ra, Sở cũng đã nghiên cứu thử nghiệm thành công công nghệ chôn lấp rác hợp vệ sinh quy mô xã, thực hiện đầu tư xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh cho các thị trấn thuộc các huyện, thị xã trong tỉnh, thử nghiệm thành công các mô hình “Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Hải Dương” tại 20 xã điểm của 5 huyện, đã trở thành mô hình trình diễn để các huyện triển khai mở rộng ra toàn tỉnh. Đến nay đã có 125 bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh được xây dựng tại các xã; 80% thôn đã tổ chức hoạt động thu gom rác thải tại công đồng.

Hơn thế công tác khuyến nông đã tập trung vào việc xây dựng các mô hình trình diễn nhằm đưa nhanh những giống cây trồng, vật nuôi mới, những công nghệ mới đã được nghiên cứu áp dụng thành công tại tỉnh vào sản xuất. Trong 5 năm qua đã xây dựng được 499 mô hình thâm canh các giống lúa mới với quy mô trên 2.280 ha; 41 mô hình thâm canh các giống ngô; 336 mô hình sản xuất cây rau màu; 173 mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm. Kinh phí đầu tư cho hoạt động khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trung bình giai đoạn 2008 – 2014 là 2.428,286 triệu đồng, cao hơn giai đoạn 2003 – 2008 là 1.013,986 triệu đồng.