Anh quốc và căn bệnh Hà Lan

 

Anh là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, không những là một quốc gia công nghiệp và mà còn là một nước phát triển với  thủ đô Luân Đôn được coi là trung tâm tài chính toàn cầu.

Thập niên 70, nước Anh xuất hiện với vai trò là một nước sản xuất dầu mỏ và đó cũng là nguyên nhân giải thích cho những gì xảy vớinền kinh tế nước này trong 5 năm 1976-1981.

Đến giữa năm 1976, nước Anh chủ yếu là xuất khẩu dầu mỏ và đến năm 1980, Anh trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ với quy mô lớn. Vì sự gia tăng đột biến về lượng dầu xuất khẩu, cơ cấu hàng hóa cung của nước Anh có nhiều thay đổi lớn. Theo lý thuyết, cán cân thương mại về các mặt hàng sản xuất sẽ di chuyển theo hướng ngược lại của cán cân thương mại xuất khẩu dầu mỏ.

Lý do chính của việc này là nguồn ngoại tệ đổ vào ào ạt trong nước làm tỷ giá hối đoái tăng mạnh, đẩy giá hàng nội địa cao hơn hàng nước ngoài rất nhiều và do đó mà người tiêu dùng trong nước mua một tỷ lệ lớn hàng nước ngoài cũng như khách hàng nước ngoài ít mua sản phẩm từ trong nước ra (nước Anh).

Biểu đồ sau thể hiện tỷ giá hối đoái của đồng Dollar (Mỹ) và Pound (Anh) và giá tương đương của toàn bộ hàng hóa sản xuất của Anh so sánh với các nước công nghiệp khác trong giai đoạn 1970-1983

Cho đến năm 1973, nước Anh có lợi nhuận trong xuất khẩu các hàng hóa và thâm hụt về dầu. Sự thâm hụt này càng tăng trong thời gian sau thì việc sản xuất hàng hóa khác ở nước Anh càng được lợi nhuận. Chỉ đến 1976, khi Anh bắt đầu xuât khẩu dầu mỏ với quy  mô lớn thì việc xuất khẩu dầu đã đem lại lợi nhuận rất lớn trong khoảng thời gian này. Nhưng đồng thời cầu hàng hóa nước Anh lại giảm mạnh, vì giá hàng hóa trong nước tăng, và lợi nhuận mang về từ việc sản xuất dầu không đủ đền bù cho khoản thua lỗ, nên trong quý 1 năm 1984 cũng có thâm hụt về hàng hóa bán ra từ nước Anh, tỷ lệ thâm hụt này cũng gần bằng với lợi nhuận kiếm được từ việc sản xuất dầu.

Lý do chính của việc thâm hụt này không thể đổ lỗi riêng cho sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới trong thời gian ấy, mà phần lớn là do sự thay đổi cơ cấu căn bản của nền kinh tế Anh. Cuối cùng, việc xuất khẩu các hàng hóa sản xuất từ nước Anh tình hình chung năm 1984 vẫn giống như năm 1976.

Tóm lại, nước Anh với sự phát hiện và xuất khẩu dầu mỏ ở vùng biển Bắc đã dẫn đến sự suy thoái của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác do giá không cạnh tranh cao. Và điều này cho thấy căn bệnh Hà Lan có thể diễn ra ở bất cứ đâu, ngay cả ở một nền kinh tế lớn như nước Anh. Do đó mà trong quá trình phát triển và thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI đổ vào trong nước, các quốc gia thế giới thứ ba cần nghiên cứu và học hỏi để tránh những tác động mạnh mẽ từ căn bệnh Hà Lan.