Ba chương trình hành động của APEC

Mặc dù thành lập từ năm 1989, nhưng đến Hội nghị APEC lần 2 diễn ra tại Bogor (Indonesia) vào tháng 11/1994, các nước thành viên APEC mới đưa ra được quyết định quan trọng: Đẩy nhanh quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2020. Quá trình được cụ thể hoá trong chương trình hành động OSAKA 1995, Manila 1996.
a. Tuyên bố Bogor

Được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 2, nội dung tuyên bố gồm 11 điểm, quan trọng nhất là: Xây dựng khu vực mậu dịch tự do châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với các nước APEC phát triển và năm 2020 đối với các nước đang phát triển.

b. Chương trình hành động OSAKA

Được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 3, tại OSAKA, Nhật Bản, vào tháng 11/1995. Chương trình hành động OSAKA gồm 2 phần:
– Phần 1: Tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, gồm 15 lĩnh vực ưu tiên thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá;
– Phần 2: Hợp tác kinh tế và kỹ thuật, gồm 13 lĩnh vực hợp tác.

c. Chương trình hành động Manila

Được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 4, họp tại Manila, Philippines, vào tháng 11/1996.
Kế hoạch hành động Manila gồm 3 phần chính:

* Kế hoạch hành động riêng của mỗi nước hội viên (IAPs).

Tất cả các nước APEC phải chuẩn bị và cập nhật thông tin cuả các Kế hoạch hành động riêng của mình.

Ở hội nghị Manila này 18 nước hội viên của APEC đã đệ trình và công khai hóa tiến trình thực hiện cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan của nước mình, để thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư từ ngày 1.1.1997 đến năm 2010 hoặc năm 2020 (tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nước). Mỗi kế hoạch hành động riêng của mỗi nước hội viên bao gồm 15 lĩnh vực theo chương trình hành động Osaka. Các chương trình thuộc những lĩnh vực sau:
– Thuế quan: liên tục giảm thuế, làm rõ, công khai hoá chính sách thuế cuả nước mình.
– Phi thuế quan: liên tục giảm hàng rào phi thuế quan; làm rõ, công khai hoá chính sách phi thuế quan cuả nước mình.
– Dịch vụ: liên tục giảm những hạn chế để mở cửa cho thương mại dịch vụ; đặc biệt là 4 lĩnh vực: viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, dịch vụ.
– Đầu tư: thực hiện tự do hoá chế độ đầu tư dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia, tạo thuận lợi cho đầu tư.
– Thống nhất tiêu chuẩn hoá và đánh giá sự phù hợp.
– Thống nhất thủ tục hải quan.
– Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
– Chính sách cạnh tranh công bằng.
– Công khai hoá kế hoạch thu chi của Chính phủ.
– Nới lỏng cơ chế quản lý thương mại quốc tế.
– Xây dựng quy chế xuất xứ hàng hoá xuất nhập khẩu.
– Ban hành cơ chế hoà giải tranh chấp giữa các nước APEC.
– Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh thương mại cuả các nước APEC.
– Thực hiện những kết quả cuả vòng đàm phán Uruguay (vòng đàm phán WTO).
– Thu thập và xử lý thông tin của các nước.
Trong các Kế hoạch hành động riêng của mỗi thành viên cần nêu rõ thực trạng, những rào cản trong từng lĩnh vực, các biện pháp để tự do hoá thương mại và đầu tư, cùng lộ trình thực hiện.

* Kế hoạch hành động tập thể (CAPs)

Nội dung của kế hoạch này là các nước thành viên thuộc APEC cùng tiến hành những biện pháp nhằm loại bỏ những trở ngại cho quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh giảm chi phí khi hoạt động trên thị trường APEC. Có nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện kế hoạch hành động này. Những biện pháp sau đây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại và đầu tư.
Thực hiện sự thống nhất và vi tính hóa hệ thống hải quan của các nước APEC.
– Tăng cường áp dụng chế độ tối huệ quốc MFN, GSP khi buôn bán giữa các nước hội viên.
– Giảm dần và tiến tới hủy bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu.
– Hủy bỏ việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, cũng như các biện pháp hạn chế thương mại bất hợp lý. Gây áp lực với các nước hội viên không đưa ra những biện pháp phi thuế mới cản trở tự do hóa thương mại.
– Công khai các chế độ, quy định về đầu tư. Xuất bản sách “Hướng dẫn chế độ đầu tư APEC”
– Thực hiện tiêu chuẩn hóa chất lượng quản trị cho phù hợp với ISO.
– Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
– Thống nhất chính sách cạnh tranh bình đẳng.
– Thuận lợi hóa việc đi lại và giao lưu của doanh nhân…

* Các hoạt động hợp tác kinh tế – kỹ thuật

Gồm các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi.
Trong APEC, các hoạt động hợp tác kinh tế – kỹ thuật được viết tắt là “Ecotech”. Tại hội nghị Manila năm 1996, các nhà lãnh đạo cuả các nước thành viên APEC đã thống nhất về 6 khu vực ưu tiên hoạt động trong Ecotech:
– Phát triển nguồn vốn kinh doanh
– Tạo điều kiện an toàn và phát triển một thị trường vốn hiệu quả;
– Củng cố, phát triển cơ sở hạ tầng;
– Trang bị những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai;
– Khuyến khích phát triển môi trường cạnh tranh;
– Khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay, APEC đang phát triển 250 hoạt động của Ecotech.