Bài học cho tỉnh Nghệ An về vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với giảm nghèo bền vững vùng miền núi

Thứ nhất, tạo những điều kiện thuận lợi để người nghèo thoát nghèo

Tạo mọi điều kiện để người nghèo thuận lợi tiếp cận  với đến hệ thống  các dịch  vụ xã hội cơ bản, góp phần gia tăng mức sống, mức thụ hưởng của người nghèo ở    vùng miền núi. Để thực hiện tốt vấn đề GNBV, tỉnh cần chú trọng nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện GN ở các địa phương (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản…) và nâng cao trách nhiệm phối hợp trong GNBV của các ban ngành trong tỉnh.

Thứ hai, ban hành các chính sách về giảm nghèo vùng miền núi cần căn cứ vào thực trạng nghèo của vùng miền núi và phải đồng bộ trong quá trình thực hiện.

Trong xây dựng và triển khai chính sách, CQCT phải lấy người nghèo làm trung tâm để, coi trọng tính chất đặc thù của từng địa phương, từng huyện. Trong quá trình hướng dẫn và tổ chức triển khai các chính sách giảm nghèo cần phải nắm được điều  kiện tự nhiên, phong tục tập quán vùng miền núi để có sự điều chỉnh cho phù hợp. Có như vậy mới phát huy tối đa hiệu quả của chính sách, mang lại lợi ích lớn nhất cho người nghèo vùng miền núi. Mặt khác, cần thực hiện đồng bộ các khâu trong việc thực hiện chính sách, từ khâu xây dựng, ban hành chính sách đến khâu tổ chức triển khai, điều chỉnh, kiểm tra và giám sát thực hiện. Ở mỗi khâu, mỗi công đoạn cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các ban ngành, đoàn  thể, tổ chức KT-XH, các  doanh nghiệp và các cộng đồng dân cư nhằm huy động tổng lực cho công cuộc GNBV vùng miền núi.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo vùng miền núi tiếp cận các nguồn vốn gắn với tư vấn, hỗ trợ để phát triển sản xuất, tăng thu nhập.

CQCT cần thực hiện tốt các chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo vùng miền núi, giảm bớt phiền hà và các điều kiện cho vay để người nghèo vùng miền  núi  dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các quỹ tín dụng nhân dân; tăng thêm nguồn vốn cho vay hợp lý, nhưng cần phải đáp ứng  tốt  nhu cầu tối  thiểu cho đầu tư nhằm phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của các hộ nghèo; tăng thời hạn đối với các nguồn vốn cho vay để người nghèo có khả năng sản xuất và tái    sản xuất, kinh doanh; bên cạnh đó, có thể thực hiện cho người nghèo vay bằng hiện vật cùng với chuyển giao quy trình kỹ thuật theo phương thức “cầm tay chỉ việc”.

Đặc biệt, cần có cơ chế để ngân hàng và các trung tâm khuyến nông, khuyến  lâm có thể phối kết hợp để hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật, hướng dẫn cho người nghèo về thị trường cũng như những kinh nghiệm về sản xuất, kinh doanh. Các hộ gia đình này cần được cung cấp các thông tin phù hợp, đầy đủ, và cụ thể về các hình thức tín dụng   để người nghèo có thể tiếp cận ngồn vốn chính sách.

Phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Chính sách xã hội, cùng với các  quỹ tín  dụng nhân dân cùng với hệ thống chính quyền cơ sở, và các tổ chức hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, … và các ban GN  vùng miền,  tổ tiết kiệm và  vay vốn cấp xã để bình xét hộ nghèo đảm bảo đúng tiêu chuẩn quy định của Nhà nước; thực hiện tốt hợp đồng uỷ thác vay vốn; kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn đối với người nghèo để vốn vay mang lại hiệu quả cao nhất.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp các cơ quan có liên quan đến giảm nghèo bền

vững.

Để thực hiện tốt GNBV vùng miền núi, CQCT cần thực hiện việc phân cấp, phân quyền trong xây dựng chính sách, tăng cường  tính chủ động cho các huyện và xã (nếu điều kiện cho phép) các chương trình, các dự án có liên quan đến GN được triển khai trên địa bàn, nhất là trong việc xây dựng các phương án tạo sinh kế bền vững, thực hiện  GNBV, chống tái nghèo.

Gắn với phân cấp, phân quyền cần có sự phối hợp các cơ quan hữu quan. Các cơ quan như Sở LĐ-TBXH cùng với Ban Chỉ đạo GN của tỉnh đóng vai trò chủ đạo, là đầu mối thống nhất trong việc vạch ra đường hướng GN, xây dựng cơ chế, dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển, nhất là về xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH; các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp phải đóng vai trò hỗ trợ các nguồn lực cần thiết nhằm  thúc đẩy quá trình  GN nhanh và bền vững.

Trong tổ chức thực hiện các cơ quan CQCT luôn chú ý tới tính đặc thù của từng huyện, trình độ quản lý và khả năng chuyên môn của cán bộ cơ sở, từ đó có bổ sung cơ chế phối hợp giữa chính quyền các cấp, ngành và các tuyến thích hợp, đảm bảo thực hiện xuyên suốt các chính sách GNBV vùng miền núi của tỉnh. CQCT thường xuyên đốc thúc, chỉ đạo việc rà soát hiện trạng GN tại các địa phương, từ đó đưa ra mức độ trao quyền phù hợp với trình độ, năng lực quản lý của các xã, huyện, nhất là trong vấn đề quyết định và thực hiện các công trình, dự án GN trên địa bàn, thúc đẩy hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cũng như tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật sản xuất phù hợp với đặc điểm sinh hoạt, sản xuất, canh tác của từng huyện vùng miền núi.

Mặt khác, CQCT phải có biện pháp tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng về kinh tế để người dân có cơ hội được tham gia vào quá trình phát triển KT-XH, trong đó được tiếp cận các nguồn lực và lợi ích từ quá trình phát triển này. Bên cạnh đó, CQCT tạo ra nhưng cơ chế, xây dựng chính sách nhằm hỗ trợ đặc biệt cho các đối tượng không có khả năng, hoặc yếu về năng lực trong tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi từ quá trình phát triển KT-XH nhất là người dân sống ở vùng miền núi, xoá bỏ mặc cảm tự ti, để người dân vươn lên thoát nghèo.

CQCT có biện pháp phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội các cấp (Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…) trong  việc  hỗ trợ, giúp đỡ thành viên của mình là hộ nghèo làm kinh tế, bằng việc hỗ trợ về kỹ thuật, hướng dẫn để người nghèo có thể tiến hành xây dựng các mô  hình  sản xuất kinh  doanh, tổ chức học tập trao đổi tại chỗ, qua đó để sử dụng và phát huy được nguồn lực nhằm phát triển KT-XH. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình.