Bản chất của kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức chỉ là bước phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất, và về bản chất chỉ là công cụ, phương tiện của nền kinh tế, phục vụ các ngành kinh tế truyền thống. Tự bản thân nó không sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cuộc sống con người. Nó chỉ hỗ trợ cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong việc sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng các nhu cầu đó.

Phân biệt rõ sự khác nhau này sẽ làm nổi bật bản chất của nền kinh tế dựa trên tri thức:

a) Về sản xuất

– Sản xuất tri thức xảy ra khi con người rút kinh nghiệm từ phương pháp sản xuất hoặc tiêu thụ các hàng hoá, hoặc khi họ lắng nghe tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm của những người khác. Đồng thời, việc sản xuất tri thức có tính không chắc chắn và có độ rủi ro lớn vì nó thường được áp dụng theo phương pháp “thử” và “sai”. – Sự khác biệt nữa giữa sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tri thức là dạng của thành phẩm. Khác với tư liệu sản xuất khác, tri thức được biểu hiện bởi vốn nhân lực và tổ chức.

c) Về trao đổi

Sự “trao đổi” tri thức không đòi hỏi bất kỳ một ai phải rời bỏ tri thức của mình. Tri thức giống như nhiều hàng hoá công cộng khác, nó có thể chia sẻ cho mọi người mà không làm giảm lợi ích của bất kỳ ai. Khi tri thức được trao đổi, phí tổn nguồn lực của người bán không bao gồm việc mất quyền sử dụng tri thức đó. Sự khác biệt này nảy sinh từ tính bất đối xứng của thông tin.

d) Về sử dụng, khấu hao và lỗi thời

Tri thức có thể được sử dụng cho nhiều mục đích chung giống như hàng hoá. Con người có thể dùng nó như một hàng hoá tiêu dùng hoặc có thể dùng nó để tạo ra các loại hàng hoá khác, để tạo ra các cơ hội thị trường mới hoặc các tri thức mới. Tuy vậy, có những điểm khác biệt giữa tri thức như là một tư liệu sản xuất với một tư liệu sản xuất đơn thuần.

Thứ nhất, là việc sử dụng tri thức dẫn đến hiệu ứng lợi nhuận tăng dần theo quy mô. Điều này phù hợp với cân bằng tổng quát trong cạnh tranh hoàn hảo.

Thứ hai, là việc sử dụng tri thức tự động tạo ra lỗi thời của các tri thức khác, cũng như tư liệu sản xuất khác. Điều này có nghĩa là tri thức tạo ra ngoại ứng (ngoại ứng âm và dương).

Thứ ba, việc sử dụng tri thức sẽ không chỉ tạo ra nhiều sản phẩm với chi phí ít hơn mà còn dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm chưa từng tồn tại.

e) Đo lường sản lượng, năng suất

Hệ quả sự khác biệt nói trên dẫn đến là tất cả các hoạt động tạo ra tri thức đều khó đo lường hoặc đo lường không chính xác. Chẳng hạn, có rất nhiều hoạt động đào tạo, học hỏi quan sát, thử nghiệm và các hoạt động khác của các doanh nghiệp, của các hộ gia đình vẫn chưa được đo lường vào tổng thu nhập quốc dân.

Do có sự khác biệt nói trên của tri thức với tư liệu sản xuất thuần tuý, dẫn đến có sự khó khăn nhất định trong việc đo lường chúng.

– Khó khăn đo lường thứ nhất là “vấn đề đầu vào của tri thức”.

– Khó khăn đo lường thứ hai là “vấn đề đầu tư vào tri thức”.

– Khó khăn đo lưòng thứ ba là “vấn đề cải tiến chất lượng của tri thức”.

– Khó khăn đo lường thứ tư là “vấn đề lỗi thời của tri thức”.