Bản chất và tiêu chí xác định đói nghèo

1. Quan niệm về đói nghèo

Đói nghèo là một hiện tượng xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, không những có thể gây ra thảm hoạ về nhân đạo, mà còn có nguy cơ gây bất ổn xã hội. Nghèo đói thể hiện ở tình trạng kiệt quệ của một bộ phận dân cư bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập kém tới tình trạng dễ bị tổn thương khi phải đối mặt với những tai ương bất ngờ, hoặc ít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định của cộng đồng. Nghèo đói là một phạm trù lịch sử và có tính tương đối. Tính chất và đặc trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, hoàn cảnh chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và văn hoá của vùng, miền, quốc gia, khu vực trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Trong các xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, đói nghèo có nguyên nhân chủ yếu và trước hết là do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém, sản phẩm thặng dư trong xã hội không nhiều, thêm vào đó là tình trạng áp bức giai cấp nặng nề trong các xã hội có giai cấp, nên quyền phân phối sản phẩm lao động làm ra thuộc về một ít người – về giai cấp thống trị. Xã hội phân chia thành hai cực đối lập, trong đó “ Kẻ ăn chẳng hết, người lần không ra”:

Chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất lớn và nền đại công nghiệp, đã tạo ra một năng suất lao động cao hơn hẳn các xã hội trước và với một lực lượng sản xuất khổng lồ “bằng tất cả các thế hệ trước cộng lại”, đã mở ra khả năng to lớn để con người có thể đáp ứng được các nhu cầu phát triển của mình. Tuy nhiên, do sự thống trị của chế độ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, sự phân hoá và áp bức giai cấp, sự khác biệt về năng lực và cơ hội của các cá nhân…, trong xã hội này nghèo đói vẫn tồn tại song hành cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội.

Khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ ra những quy luật vận động và phát triển của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập một cách toàn diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của giai cấp vô sản và những người lao động làm thuê trong chủ nghĩa tư bản. Tiêu biểu là các tác phẩm “ Bản thảo kinh tế – triết học” (1844), “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” và sau này là trong bộ “Tư bản”.

Ở đây, hai ông đã mô tả cặn kẽ, tỷ mỹ tình cảnh của những người nông dân bị mất hết tư liệu sản xuất, bị xua ra thành phố, những người phụ nữ và trẻ em bị vắt sức lao động trong các xưởng thợ… Họ góp phần trở thành đội quân những người vô sản, là nạn nhân của sự bóc lột giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối của các ông chủ tư bản.

Những người công nhân đó bản thân không có chút tài sản gì đáng kể và chỉ sống bằng tiền lương và hầu hết là luôn luôn chỉ vừa đủ ăn, cái xã hội gồm những nguyên tử rời rạc ấy hoàn toàn không quan tâm đến họ, để mặc cho họ tự lo lấy việc nuôi mình và nuôi gia đình nhưng lại không cấp cho họ phương tiện để có thể thường xuyên và thật sự giải quyết nhưng nhu cầu ấy, cho nên mỗi người công nhân, thậm chí là công nhân giỏi nhất cũng luôn luôn có thể bị mất việc và do đó cũng sẽ không có ăn,… [18, tr.418-419].

Sự bóc lột tàn bạo đó đã dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập: tích luỹ sự giàu có đến tột độ về phía giai cấp tư sản và tích tích luỹ sự nghèo khổ về phía giai cấp công nhân. C.Mác viết: “Như vậy, tích luỹ của cải ở một cực này đồng thời cũng có nghĩa là tích luỹ sự đau khổ của lao động, sự nô lệ, sự dốt nát, sự cục cằn và sự truỵ lạc tinh thần ở cực đối lập, tức là ở phía giai cấp sản xuất ra bản thân sản phẩm của mình với tư cách là tư bản” [19, tr.909]. Sự phân hoá giàu nghèo ấy ngày càng sâu sắc và đã trở thành sự phân hoá giai cấp không thể điều hoà được.

Để làm rõ nguyên nhân của hiện tượng nghèo đói và sự bần cùng của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi vào lý giải vấn đề tiền công trong xã hội tư bản. Theo Mác, tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, tiền công gồm có tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế. Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, do đó tiền công danh nghĩa phải được chuyển thành tiền công thực tế.

Tiền công thực tế là tiền được biểu hiện bằng số lượng hàng hoá tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình. Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hoá sức lao động, nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên.

Mác còn chỉ rõ, tính quy luật của sự vận động của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là: trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp với mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ, khi đó tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bần cùng của giai cấp vô sản.

Như vậy, theo Mác và Ăngghen, nghèo đói của giai cấp vô sản trong xã hội tư bản có nguyên nhân trực tiếp từ sự phân phối thu nhập của sản xuất xã hội qua tiền công và phân phối giá trị thặng dư trên thị trường.

Trong các chế độ tư hữu và bóc lột thống trị, nghèo khổ, đối kháng giai cấp và phân cực xã hội là những hiện tượng luôn đi liền nhau trong một tất yếu nhân quả hữu cơ không thể tách rời. Nó thuộc về bản chất kinh tế chính trị – xã hội của phương thức sản xuất đó. Chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay nhờ lợi dụng được những thành quả của cách mạng khoa học – công nghệ, sớm áp dụng những biện pháp điều chỉnh và cải cách trong quản lý nên đã đạt được những bước tiến lớn trong sản xuất, tăng trưởng kinh tế, trở nên giàu có phồn vinh. Song một bộ phận nhỏ bé thuộc các thế lực tư sản nắm quyền lực đã chiếm đoạt hầu hết mọi của cải xã hội, và một bộ phận dân cư không nhỏ sống trong thất nghiệp và nghèo đói.

… Trong sáu người trên thế giới thì có một người sống nghèo khổ, tức là cả hành tinh có một tỷ người nghèo đói, 800 triệu trẻ em bị đói; riêng EU có 18 triệu người thất nghiệp và 50 – 70 triệu người sống bấp bênh. Những tình trạng được coi như đã bị loại trừ hay ít nhiều bị hạn chế cách đây 20 năm ở châu Âu hiện nay lại trở nên phổ biến. Đầu tiên là mất việc làm, rồi không có tiền để lo cho cuộc sống, bị mất chỗ ở hoặc phải sống chung trong những nơi chật chội v.v… [11].

Các chính sách mà nhà nước tư sản đưa ra chỉ có thể làm dịu bớt mức độ gay gắt của những xung đột, đối kháng, nghèo khổ chứ không thể xoá bỏ tận gốc được. Chủ nghĩa tư bản từ trong bản chất của nó không thể tự giải quyết được nghèo đói. Phân cực xã hội ngày càng gay gắt là nghịch lý của phát triển với hệ thống các quan hệ tư bản chủ nghĩa.

Trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây với quan niệm cho rằng: nghèo khó là hậu quả của sự bóc lột trong tăng trưởng kinh tế. Để giải quyết nghèo đói, chúng ta đã quá thiên về chủ nghĩa bình quân trong phân phối, chia đều sự nghèo khổ cho tất cả mọi người mà không tính đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và điều đó đã dẫn đến việc xem nhẹ lợi ích kinh tế của cá nhân, hạn chế cá nhân làm giàu và triệt tiêu động lực phát triển kinh tế – xã hội.

Bên cạnh quan điểm trên, lại có quan niệm cho rằng chỉ cần xác lập quyền sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, quyền làm chủ xã hội của nhân dân lao động thì nghèo đói sẽ tự động biến mất, xã hội sẽ ngay lập tức đạt tới sự phồn thịnh, mọi người ai cũng giàu có.

Song thực tế lại không phải như vậy, mặc dù trong chủ nghĩa xã hội, không còn đối kháng giai cấp, nhưng những sự khác biệt của người lao động vẫn luôn tồn tại. Sự khác biệt về phẩm chất, năng lực, trí tuệ, thể lực, cơ hội của những người lao động đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả lao động có ích mà họ cống hiến cho xã hội, và do đó khác nhau về thu nhập do kết quả lao động đó mang lại.

Trong chủ nghĩa xã hội, giàu, nghèo vẫn còn tồn tại, nhất là trong cơ chế thị trường, bình đẳng và công bằng xã hội là tương đối chứ không phải là tuyệt đối, là hướng tới ngày một thụ hưởng đầy đủ hơn những giá trị ấy, chứ không phải lập tức đã có ngay những giá trị ấy, nhất là khi chủ nghĩa xã hội mới ra đời chứ chưa ở trình độ thành thục, phát triển. Như vậy, nghèo đói là một vấn đề kinh tế – xã hội chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, các thước đo để đánh giá ai nghèo, ai giàu lại chủ yếu và trước hết dựa trên thước đo về kinh tế.

Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc tháng 9-1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa nghèo đói như sau:

“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.

Có thể xem đây là một quan niệm, một định nghĩa chung nhất về nghèo đói, tuy nhiên, những tiêu chí về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng vì ở đây còn phải tính đến yếu tố lịch sử, đến trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán của mỗi địa phương. Song có thể nói, định nghĩa đã đề cập được đến nội dung cơ bản của vấn đề nghèo đói đó là nhu cầu cơ bản của con người.

Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại sinh học của con người. Theo ý đó, đói là tình trạng nghèo khổ cùng cực, là trạng thái con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng để duy trì sự sống bình thường và không đủ để lao động, tái sản xuất sức lao động.

Đói là sự nghèo nàn hiển nhiên và nghèo là một sự đói tiềm tàng và luôn đứng trước khả năng bị đói, trong thực tế nhất là khi lâm vào tình trạng thiên tai, rủi ro, hoạn nạn thì trạng thái nghèo khổ sẽ trở thành đói.

Nghèo có hai dạng, là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.

Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thường trực không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.

Như thế, sự thiếu thốn “của cải” trong mối quan hệ với nhu cầu thiết yếu của con người được xem là nghèo khổ tuyệt đối. Còn khi xem xét thực trạng mức sống và vị trí (về kinh tế – xã hội) các nhóm hoặc các cá nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ, cơ hội tiếp cận các nguồn lực… sẽ cho ta quan niệm về nghèo tương đối.

Ngoài ra, Liên Hợp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người, thành tựu y tế – xã hội và trình độ văn hoá giáo dục, tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người – Human Development Index (gọi tắt là HDI).

HDI bao gồm ba yếu tố cơ bản của sự phát triển con người: tuổi thọ, trình độ và mức sống. Tuổi thọ được phản ánh bằng số năm sống trung bình của người dân. Trình độ được đo bằng cách kết hợp tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (với trọng số là 2/3 của chỉ số trình độ) với số năm đi học trung bình của mỗi người (với trọng số tương ứng là 1/3). Mức sống được đo lường theo mức GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) của mỗi quốc gia. Theo số liệu của UNDP, HDI của nước ta năm 1998 là 0,671 đứng thứ 108; các nước có chỉ số phát triển con người cao là từ 0,801 trở lên, còn mức trung bình là từ 0,505 đến 0,797; dưới 0,506 là các nước có chỉ số phát triển con người thấp. Chỉ số này cao nhất là 1. Năm 1989 nước có chỉ số cao nhất là Canađa đạt 0,935.

Sự kết hợp giữa chỉ tiêu HDI và chỉ tiêu GDP/ người như đã nêu ở trên cho phép chúng ta đánh giá, nhận diện đói nghèo một cách khách quan và chính xác hơn.

Đói nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là thời gian, không gian, môi trường và giới.

Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian dài(tuy nhiên cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp, do thiên tai, rủi ro hay do con người gây ra).

Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ. Mặc dù trong gia đình, nam giới là chủ gia đình, nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo đói.

 Về không gian: nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi,vùng sâu, vùng xa… dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa dân cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo đói.

Về môi trường: hầu hết những người nghèo đói đều phải sống trong môi trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo đói không đủ khả năng và điều kiện để gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống.

          Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau nên có những kiến giải khác nhau, sự nghèo đói là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi. Các chỉ số xác định giới hạn nghèo đói không phải là cứng nhắc và bất biến. Nó biến đổi tuỳ theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia.

Quan niệm đói nghèo của Việt Nam: Dựa trên các khái niệm của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể hơn và được nghiên cứu ở các cấp độ, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 2001 – 2010 của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm. Nghèo, đói, hộ đói, hộ nghèo, vùng nghèo…. và có các tiêu chí xác định cho từng loại cụ thể.

Về khái niệm nghèo của Việt Nam thì cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của ESCAP.

Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là nấc thang thấp nhất của nghèo, đây vốn thuần tuý là đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá tinh thần.

Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt).

– Đói kinh niên: là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét.

– Đói cấp tính: là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

– Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát….

– Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.

– Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, (Có tỷ lệ nghèo từ 25% trở lên) không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: Điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch vv…trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.

– Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.

2. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo

Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây:

Tiêu chí có nghĩa là: Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm [30, tr.990]. Như vậy, tiêu chí mang tính định tính.

Chuẩn có nghĩa là: cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường, cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen trong xã hội [30, tr.181]. Như vậy, chuẩn mang tính định lượng. Từ đó ta có thể hiểu chuẩn nghĩa là mốc giới hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quy định về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo, còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo. Chuẩn là công cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Giữa chuẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ lệ hộ nghèo cao và ngược lại

          a. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới

          Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là: Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo. Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4%. Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất [32, tr.11].

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD.

          Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại.

+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.

+ Từ 20.000 đến dưới 25.000 USD/người/năm là nước giàu.

+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là khá giàu.

+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm là nước trung bình.

+ Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.

+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo.

          Theo phương pháp thứ hai: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh. WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ngày. Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1 USD/người/ngày. Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm. Với mức trên WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thế giới đang sống trong nghèo đói.

Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế – xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia. Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày. Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng. Srilanca là 17USD/người/tháng. Bangladet là 11USD/người/tháng. Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người hiện nay (năm 2006) khoảng 720 USD/người/năm, nên trên bình diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó, do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam.

Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo. Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội. Trong thực tế nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển toàn diện. Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách nghèo ngày càng tăng lên, xu hướng này không chỉ xảy ra ở những nước nghèo mà còn xảy ra ở những nước khá và giàu. Qua đó có thể thấy rằng: Nghèo khổ trong xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao mà còn là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu; tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan.

          b. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam

Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ mục đích khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động – Thương binh và xã hội công bố. Chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới đưa ra để đánh giá nghèo đói trên giác độ vĩ mô.

* Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới

Tổng Cục thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng Ngân hàng thế giới áp dụng phương pháp xác định chuẩn nghèo theo phương pháp đo lường mức sống của Ngân hàng thế giới được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (các năm 1992 – 1993 và 1997 – 1998) để xây dựng đường đói nghèo.

Đường đói nghèo ở mức thấp là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm, được xác định bởi chi phí cần thiết để mua rỗ lương thực, thực phẩm cung cấp đủ lượng calo tiêu dùng bình quân 1 người/ngày (2.100 calo). Đường đói nghèo ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm các mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lượng thực, thực phẩm). Trên cơ sở xây dựng đường đói nghèo thì Tổng cục thống kê và WB đưa ra chuẩn nghèo đói của Việt Nam như sau:

– Chuẩn nghèo đói về lương thực, thực phẩm năm 1993 là 750 nghìn đồng/ngày/năm và năm 1998 là 1.287 nghìn/người/năm tương đương 92 USD.

– Chuẩn nghèo đói chung năm 1993 là 1.160 nghìn/người/năm và năm 1998 là 1.788 nghìn/người/năm tương đương 128 USD.

Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế sau:

Phương pháp này sử dụng rổ hàng hoá từ năm 1993 đến nay hơn 15 năm nên không thể phản ánh được thực tế tiêu dùng hiện tại của đại đa số người dân Việt Nam.

Sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất áp dụng cho cả khu vực thành thị, nông thôn và chỉ cho phép đánh giá thực trạng nghèo đói của cả nước, không thể xác định và lập danh sách hộ nghèo cụ thể cho từng địa phương (xã, huyện, tỉnh).

* Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia

          Bộ Lao động – Thương binh và xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Lúc đầu chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang mức thu nhập, kết quả là đã 4 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau

Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ (khoảng 14 triệu dân) nghèo đói, chiếm 17,7% dân số (theo chuẩn chung của quốc tế là 37%). Trong đó có 300.000 hộ thường xuyên nghèo đói. Có 1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện, đường, trường, trại xá, chợ, nước sạch), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát triển. Đến cuối năm 2000, tỉ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn là 11,2%. Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,2%), đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,1 triệu hộ nghèo, chiếm 7,0%.

Ưu điểm của phương pháp này là: Đảm bảo từng bước thoả mãn nhu cầu của con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá….). Chuẩn nghèo đói được điều chỉnh gắn với tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của người dân. Mặt khác theo phương pháp này, tạo điều kiện cho cơ sở có thể triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết.

Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này có hạn chế là chưa tính toán đầy đủ nhu cầu tiêu dùng (chỉ chú ý một số nhu cầu lương thực, thực phẩm và một số nhu cầu phi lương thực, thực phẩm). Độ tin cậy chưa cao do không có điều kiện điều tra diện rộng, thu nhập thông tin về thu nhập của người dân nông thôn và miền núi rất khó chính xác.

Mặc dù có một số hạn chế nhưng cách tính chuẩn nghèo của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội là tương đối phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.

        * Về tiêu chí xác định xã nghèo

Năm 1998, uỷ ban Dân tộc và Miền núi đã ban hành quy định xã đặc biệt khó khăn (thuộc chương trình 135) là xã có đủ 5 tiêu chí sau:

– Các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách thành phố, thị xã, khu công nghiệp, trung tâm thương mại, quốc lộ, tỉnh lộ trên 10 km.

– Không có đường ô tô vào xã, các công trình điện, thuỷ lợi, nước sạch, trường học, bệnh xá, các dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.

– Môi trường XH chưa phát triển, trình độ dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ và thất học trên 50%, bệnh tật nhiều, hủ tục lạc hậu, không có thông tin.

– Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn, số hộ không có đất và thiết đất sản xuất trên 20% số hộ có người làm thuê trên 20%.

– Số hộ nghèo đói trên 30%. Đời sống còn nhiều khó khăn, còn tình trạng đói giáp hạt.

Năm 2002, Bộ lao động – Thương binh và Xã hội có Quyết định số: 587/2002/QĐ-BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đủ 2 tiêu chí sau:

– Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.

– Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau:

+ Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch.

+ Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt.

+ Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm.

+ Số phòng học mới đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng tam bằng tranh, tre, nứa, lá.

+ Chưa có trạm y tế hoặc có nhưng nhà tạm.

+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm thời.

Theo tiêu chí nêu trên thì hiện nay nước ta có khoảng 1 780 xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), và 639 xã nghèo (năm 2005).