Ban hành các chính sách về giảm nghèo bền vững

Muốn thực hiện GNBV vùng miền núi thành công phải có những điều kiện của  nó, trước hết là những nguồn lực cơ bản như vốn, nhân lực, khoa học và công nghệ.

Vùng miền núi luôn đứng trước các vấn đề kinh tế làm cho quá trình thực hiện GNBV khó thành công. Đó là, các nguồn lực luôn ở vào trình trạng khan hiếm, trình   độ phát triển khoa học và công nghệ thấp, trình độ dân trí thấp. Vì vậy, tạo những điều kiện để thực hiện hiện GNBV vùng miền núi là một nội dung quan trọng của vai trò   của CQCT. Để tạo được những điều kiện đó, đòi hỏi CQCT phải đưa ra được các    chính sách hữu hiệu.

Chính sách GNBV vùng miền núi do CQCT ban hành là một bộ phận của chính sách công. Đó là là tổng thể  các chương trình hành động và công cụ  mà CQCT sử  dụng nhằm tác động lên các chủ thể nhằm thực hiện mục tiêu GNBV vùng miền núi  trên địa bàn.

Các chính sách quan trọng để thực hiện GNBV vùng miền núi gồm:

Thứ nhất, chính sách về phát triển kết cấu hạ tầng và chính sách thu hút các  nguồn lực.

Đầu tư công nói chung, phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi nói riêng là yếu  tố trực tiếp làm tăng thu nhập cho người dân thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng, giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục… tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, trong đó    có người nghèo, tiếp cận tốt hơn với thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị phần và tăng doanh thu. Bên cạnh đó, đầu tư công cho GN còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng đối với người nghèo và thay đổi nhận thức của họ, giúp  họ  thích  nghi được với kinh tế thị trường.

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng miền núi được thực hiện theo nguyên tắc tuân thủ các quy định của Nhà nước, thực hiện phân cấp có hiệu quả trong quản lý đầu tư đúng pháp luật theo hướng tạo sự chủ động cho chính quyền các cấp theo thẩm quyền. CQCT căn cứ và cân đối nguồn NSĐP hàng năm, có cân nhắc việc sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển trong nguồn NSĐP và nguồn ngân sách trung ương cấp, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn từ các chương trình, dự án, vốn ODA để ưu tiên đầu tư cho các công trình hạ tầng KT-XH, tùy từng cấp (thôn, bản, xã, huyện) mà có những đầu tư thỏa đáng nhưng cũng cần đầu tư có trọng điểm, nhằm tạo nên những bước đột phá trong kết cấu hạ tầng, thúc đẩy kinh tế – chính trị – xã hội của vùng miền núi phát triển.

Để tăng thu nhập bền vững cho các hộ nghèo vùng miền núi, thì hệ thống chính sách phát nhằm phát triển kết cấu hạ tầng tại vùng miền núi cần hướng vào hỗ trợ sản xuất,  tạo việc làm. Trong ban hành chính sách, chú ý cần quy định rõ ràng về cơ chế   hỗ trợ, đặc biệt về mặt tài chính thông qua các hoạt động tạo việc làm phù hợp với đặc điểm tình hình KT-XH vùng miền núi như giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao đất trồng rừng phục vụ sản xuất… Các chính sách cần  tập trung vào  hỗ  trợ sản xuất và  sinh kế bền vững. Để các chính sách phát huy hiệu quả, cần thiết phải quy hoạch lại  việc sản xuất và thực hiện chuyển đổi mô hình, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và cách thức sản xuất kinh doanh của vùng miền núi.

Phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng miền núi đòi hỏi phải có nguồn lực, nhất là nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, chính sách phát triển kết cấu hạ tầng gắn liền với chính sách huy động các nguồn lực. Để huy động các nguồn lực đòi hỏi CQCT phải:

Một là, sử dụng các nguồn lực huy động vào đúng mục đích và có hiệu quả cao nhất, tránh đầu tư nguồn lực tràn lan, không hiệu quả; tránh tham nhũng, tham ô làm thất thoát nguồn lực. Đây có thể nói biện pháp hữu hiệu nhất đề thu hút nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi;

Hai là, tuyên truyền người dân hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò của phát  triển kết  cấu hạ tầng đối với phát triển KT-XH cũng như GNBV vùng miền núi, qua đó người dân sẽ tự nguyện đóng góp sức người, sức của để thực hiện;

Ba là, có những ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư các nguồn lực vào phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi như ưu đãi về thuế đất đai hay giải phóng mặt bằng;

Bốn là, vận động tuyên truyền các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước   tài trợ cho vùng miền núi về phát triển kết cấu hạ tầng.

Thứ hai, chính sách về giáo dục, đào tạo và việc làm

Chính sách về giáo dục và đào tạo nhân lực là một trong những chính sách đột phá về GNBV, bởi nó đào tạo ra nhân lực có chất lượng, cung cấp cho người nghèo những công cụ và kiến thức cần thiết để thoát nghèo, từ đó phá vỡ cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Đặc biệt, là đối với vùng miền núi, do sự khác biệt về đặc điểm tâm lý, tập quán, vấn đề nhận thức về học vấn và tri thức của các vùng là khác nhau, gây khó khăn trong thu hút đào tạo nhân lực cho các hộ nghèo. Đây là một phương pháp hỗ trợ gián tiếp để GN, nhưng lại tạo nên được hiệu quả lâu dài.

Xây dựng chính sách về giáo dục và đào tạo nhân lực vùng miền núi phải đáp ứng được các yêu cầu :

Một là, linh hoạt nội dung trong chính sách giáo dục – đào tạo ở tất cả các cấp theo hướng mở rộng các cấp học, bậc học; xây dựng hệ thống chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ cho học sinh thuộc hộ nghèo và các vùng có nhiều DTTS. Do vậy, cần chú trọng công tác đào tạo nghề, mở rộng các hoạt động cho người dân, nhất là đối với người nghèo về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…;

Hai là, đa dạng các loại hình giáo dục và đào tạo nghề vùng miền núi; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý người nghèo miền núi; tăng cường các hình thức đào tạo gắn với thực hành, áp dụng các mô hình kinh tế trong thực tiễn, phát triển chương trình dạy nghề tại các trường học, nhất   là trường dân tộc nội trú; phát triển các hình thức dạy nghề gắn với yêu cầu của các doanh nghiệp.

Ba là, chú trọng thu  hút và  phát triển nhân lực chất lượng cao với chính sách hỗ  trợ, đãi ngộ thích đáng thể thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là các nhà khoa học, giúp phát triển KT-XH vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Mục đích của chính sách về giáo dục, đào tạo là nâng cao trình độ dân trí, qua

đó tạo và giải quyết được việc làm cho những người nghèo thuộc vùng miền núi.

Chính sách giải quyết việc làm cho những người nghèo thuộc vùng miền núi

đòi hỏi phải :

Một là, giải quyết việc làm tại chỗ. Để thực hiện điều này đòi hỏi chính quyền các cấp phải có các chính sách để phát triển kinh tế vùng miền núi, ưu đãi  các doanh  nghiệp đầu tư, nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn cho người nghèo. Gắn với ưu đãi đó là có chế tài quy định bắt buộc phải thu hút người nghèo vào làm việc;

Hai là, giải quyết việc làm thông qua đưa người nghèo đi làm việc ở các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động. Muốn vậy, trước hết  phải nâng cao trình độ chuyên  môn, ngoại ngữ và ý thức lao động cho người nghèo. Mặt khác phải đẩy mạnh xúc tiến việc làm cho người nghèo vùng miền núi.

Thứ ba, chính sách về hỗ trợ và tiếp cận vốn phát triển sản xuất

Chính sách vốn, nhất là chính sách tín dụng ưu đãi, góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu KT-XH và GNBV, đảm bảo tốt an sinh xã hội, góp phần từng bước nhằm xây dựng nông thôn mới, tạo các bước đệm cần thiết để nâng cao điều kiện sống, cũng như những chuyển biến mạnh mẽ, kịp thời và toàn diện ở các vùng nghèo. Tại vùng miền núi, vốn vẫn luôn là một nhân tố cốt lõi góp phần vào tăng trưởng của địa phương.

Chính sách vốn tập trung vào thực hiện huy động nhiều nguồn vốn để triển khai thực hiện GNBV, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời nguồn vốn; tăng cường sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ NSĐP và các nguồn huy động khác như đóng góp hợp pháp của doanh nghiệp, từ tài trợ của các cá nhân tổ chức ở trong và ngoài nước; vốn đối ứng   của người dân và từ đối tượng thụ hưởng trực tiếp.

Việc phân bổ các nguồn lực tài chính cần chú trọng tới nguồn tạo vốn. Đối với vốn từ ngân sách, việc phân chia, sử dụng cần đảm bảo theo đúng quy định, phân cấp hợp   lý cho chính quyền địa phương các cấp, ưu tiên phân bổ kinh phí hỗ trợ cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, thành phần kinh tế tư nhân… đầu tư cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn vùng miền núi nhằm tăng cường hoạt động thương mại, tăng cường thông tin và phát triển các thị trường trên địa bàn các huyện trong vùng. Đặc biệt, cần phát triển các chương trình tín dụng ưu đãi, giúp người nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận hơn với nguồn tín dụng ưu đãi để phát triển KT-XH, đầu tư sinh kế bền vững ở vùng miền núi.

Thứ tư, chính sách về hỗ trợ khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ là một trong những công cụ trong thời đại kinh tế hiện nay giúp tăng năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất và gia tăng lợi nhuận. Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc áp dụng khoa học công nghệ vào canh tác sản xuất là yêu cầu bức thiết.

Việc áp dụng tiến bộ công nghệ vào thực tế sản xuất tại vùng miền núi  cần đảm  bảo mục tiêu hỗ trợ các điều kiện nhằm phát triển sản xuất  hàng hóa, nâng cao thu  nhập cho hộ nghèo; tập trung vào các chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, và nhân rộng mô hình phù hợp về GN một cách có hiệu quả.

Mặt khác, chính sách về hỗ trợ khoa học và công nghệ cho người nghèo vùng miền núi cần tập trung vào tăng cường kiến thức về sản xuất thông qua việc  các lớp tập   huấn cho người nghèo về nông, lâm, ngư nghiệp, bảo vệ thực vật, thú y; phát triển các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm thành những trung tâm nhằm thúc đẩy phát triển, chuyển giao các hoạt động, nghiên cứu khoa học, cung cấp hệ thống dịch vụ cho sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học công nghệ cho vùng miền núi nhằm hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất, tăng năng suất và tạo điều kiện gia tăng thu nhập, lợi nhuận của người dân vùng miền núi thông qua các ưu đãi nhằm thu hút các đơn vị, tổ chức, các cá nhân, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, ưu tiên chuyển giao, liên kết trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thứ năm, chính sách y tế cho người nghèo

Cùng với việc cải thiện trí lực cho người nghèo vùng miền núi, cải thiện về thể lực là một vấn đề quan trọng để giúp người nghèo có sức khỏe tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, từ đó có thể nâng cao thu nhập và có điều kiện về tài chính  để tiếp tục  đầu tư cho việc nâng cao thể lực. Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược, kế hoạch, và hệ thống chính sách hỗ trợ cho người nghèo, đặc biệt là người nghèo vùng miền núi, DTTS, từ đó mức bao phủ bảo hiểm y tế tăng lên, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm cũng tăng lên. Bên cạnh đó, Nhà nước còn có chính sáchnhằm  hỗ  trợ cho những người cận nghèo có cơ hội và điều kiện có thể tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế khi ốm đau.

Chính sách y tế cho người nghèo vùng miền núi cần hướng vào các nội dung sau:

Một là, tiến hành xây dựng các cơ sở y tế nhằm đáp ứng tốt nhất  nhu cầu khám chữa bệnh; bảo đảm tốt nhất hệ thống trang thiết bị y tế  cũng như  dược  phẩm, thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào vùng miền núi; đảm bảo người  nghèo vùng miền núi được sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế cho  người nghèo vùng miền núi  theo quy định của  pháp luật;

Hai là, đối với y học cổ truyền, những bài thuốc dân gian cần được tiến hành trợ giúp, bảo tồn phát triển, nhất là những bài thuốc của đồng bào vùng miền núi đã được  cơ quan nhà nước công nhận;

Ba là, bảo đảm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho từng dân tộc thuộc khu vực vùng miền núi dựa trên các quy định của pháp luật;

Bốn là, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho y tế, đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa y tế với cơ chế, chính sách hợp lý nhằm ưu tiên đối với các tổ chức và các cá nhân tham gia vào phát triển y tế, phục vụ khám chữa bệnh cho người dân ở vùng miền núi.

Thứ sáu, chính sách về an sinh xã hội cho người nghèo

Vấn đề đảm bảo an sinh xã hội cho người nghèo vùng miền núi là giải pháp cơ bản để GNBV, chất lượng đời sống của dân sẽ ngày càng được nâng cao, từ đó góp  phần ổn định về xã hội, chính trị. Bảo hiểm xã hội trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người nghèo vùng miền núi, liên quan  đến quyền lợi, sức khỏe, đảm  bảo an toàn và chất lượng cuộc sống trọn đời của người nghèo.

Xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người nghèo vùng miền núi tập trung vào 4 nội dung chính như sau:

Một là, tạo việc làm cho người nghèo, để giúp họ có việc làm, qua đó gia tăng thu nhập cho người nghèo;

Hai là, xây dựng chính sách an sinh xã hội theo hướng để  cho người  nghèo  vùng miền núi có thể tham gia, để họ có thể chủ động ứng phó với những biến đổi của thị trường xảy ra làm thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất, hoặc do các nguyên nhân khác như ốm đau, tai nạn, tuổi già…. Từ đó, có thể giúp người nghèo có cơ hội thoát nghèo và chống tái nghèo;

Ba là, trong trường hợp xuất hiện các rủi ro không thể dự báo trước hoặc vượt quá khả năng của người nghèo, hoặc mất kiểm soát, thì cần có hỗ trợ thường xuyên, có thể bằng biện pháp trực tiếp thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật được trích từ NSNN;

Bốn là, tạo cơ chế giúp cho người nghèo có thể tiếp cận đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh, hệ thống giáo dục đào tạo, dạy nghề, các dịch vụ về nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, cũng như các dịch vụ cung cấp thông tin khi cần thiết.