Biện pháp thúc đẩy cách mạng khoa học công nghệ trong nông nghiệp nước ta

Biện pháp thúc đẩy cách mạng khoa học công nghệ trong nông nghiệp nước ta
Đánh giá bài viết

Để đạt được mục tiêu của cách mạng khoa học công nghệ trong nông nghiệp nước ta với phương hướng và bước đi thích hợp như trên, cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:

Xây dựng các chương trình và thực hiện theo chương trình các tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp.

Để thực hiện có kết quả cách mạng khoa học công nghệ trong nông nghiệp cần phải xây dựng được một hệ thống các chương trình tiến bộ khoa học công nghệ bao gồm các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và một số ngành khác có liên quan. Các chương trình đó vừa phản ánh những yêu cầu cơ bản, cấp bách của sản xuất, vừa góp phần tác động vào từng yếu tố cho đến toàn bộ lực lượng sản xuất nông nghiệp nước ta.

Nói chung, một chương trình tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp phải có mục tiêu cuối cùng và mục tiêu từng bước, có một loạt các biện pháp về khoa học, kỹ thuật, kinh tế – tổ chức … có liên quan với nhau cần thực hiện trong một thời gian nhất định, dưới một sự chỉ đạo thống nhất. Trong kế hoạch thực hiện chương trình, cần xác định mục tiêu cụ thể và thời gian cụ thể, lực lượng cán bộ và cơ quan có trách nhiệm thực hiện, những biện pháp cụ thể về khoa học – kỹ thuật – công nghệ, những đảm bảo về vật chất và tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia chương trình. Với cách làm trên, phương thức hoạt động khoa học công nghệ nông nghiệp theo chương trình sẽ có ý nghĩa lớn vì nó là phương thức vừa đảm bảo tính kế hoạch chặt chẽ, vừa linh hoạt cho phép tập hợp những khả năng hiện có và sẽ có vào các phương hướng trọng điểm, các mục tiêu trọng điểm trong từng thời kỳ do yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Người ta có thể phân loại các chương trình tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp theo các tiêu thức khác nhau:

–   Căn cứ vào kết quả tác động tới sự phát triển các yếu tố của lực lượng sản xuất, hệ thống chưong trình gồm các chương trình về các yếu tố sản xuất như chương trình cơ giới hoá, chương trình làm thuỷ lợi, chương trình giao thông nông thôn, chương trình nạc hoá đàn lợn v.v…

–   Căn cứ vào mục tiêu của chương trình, có chương trình nghiên cứu cơ bản, chương trình nghiên cứu ứng dụng.

–   Căn cứ vào sự phân cấp quản lý có chương trình trọng điểm quốc gia và chương trình của các địa phương.

Với bất kỳ một chương trình nào thì trong tổ chức thực hiện cũng phải căn cứ vào mục tiêu của chương trình để xác định trách nhiệm, quyền hạn cần thiết, giải quyết các biện pháp và phương tiện cần thiết, chỉ định cơ quan chủ trì và người chủ trì thích hợp nhất. Bên cạnh việc xác định trách nhiệm rõ ràng, cần làm tốt sự kết hợp thực hiện chương trình với các cơ quan khoa học khác, với các cơ quan kinh tế và cơ quan khoa học kỹ thuật ở từng ngành và địa phương, với các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiêu chuẩn để đánh giá cách xây dựng và thực hiện một chương trình tốt nhất là mang lại hiệu lực hoạt động mới cho khoa học công nghệ trong điều kiện nhất định, hoặc góp phần vào việc phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả của sản xuất.

Hiện nay có một số lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp nước ta là:

+ Chương trình tiêu thoát lũ Đồng bằng Sông Cửu Long, cải tạo khai thác vùng Đồng Tháp Mười

+ Tạo ra các giống lúa, ngô và các giống cây trồng khác có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu trên cơ sở phát huy ưu thế lai.

+ Tạo giống cây ăn quả có năng suất và chất lượng cao phù hợp với từng vùng sinh thái, góp phần đổi mới cơ cấu ngành trồng trọt.

+ Cải tạo đàn bò của Việt Nam theo hướng chăn nuôi lấy thịt, sữa có năng suất cao.

+ Nạc hoá đàn lợn trong chăn nuôi xuất khẩu.

+ Nghiên cứu áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, giảm bớt việc dùng các chất hoá học để bảo vệ môi sinh.

+ v.v…

Tăng cường năng lực khoa học công nghệ của ngành nông nghiệp.

Xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ của ngành nông nghiệp bao gồm nhiều vấn đề rất rộng lớn như: Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ; Hệ thống cơ quan nghiên cứu khoa học và các cơ sở thực nghiệm trong nông nghiệp; Bồi dưỡng kiến thức cho người lao động nông nghiệp.

–   Về đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ: Hiện nay với hàng vạn cán bộ đại học và trên đại học, với một số đông đảo hơn nữa các cán bộ trung cấp, đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ của ngành nông nghiệp. Đội ngũ cán bộ đó nói chung có phẩm chất chính trị vững vàng, có năng lực chuyên môn tốt và một số đã có những đóng góp xứng đáng. Tuy nhiên so với yêu cầu mới, chúng ta cần tập trung sức làm tốt một số vấn đề sau:

+ Cùng với việc đào tạo mới, cần coi trọng việc bồi dưỡng đào tạo lại đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ ngày càng mạnh về số lượng và chất lượng. Củng cố và xây dựng các trường Đại học Nông nghiệp để đào tạo những kỹ sư nông nghiệp có trình độ lý luận và thực hành. Xây dựng các trường cao đẳng nông nghiệp, tăng cường hệ trung học chuyên nghiệp với nhiệm vụ đào tạo kỹ sư thực hành và cán bộ trung cấp kỹ thuật để tăng cường cho cấp huyện và cấp cơ sở

+ Việc đào tạo sau và trên đại học, cần kết hợp cả hai hướng: Trong khi tiếp tục gửi đi đào tạo ở nước ngoài, cần đẩy mạnh công tác đào tạo ở trong nước.

+ Gấp rút mở rộng đào tạo các công nhân lành nghề, các kỹ thuật viên cho các cơ sở sản xuất nông lâm ngư nghiệp.

– Về hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học và các cơ sở thực nghiệm: Ngành nông nghiệp nước ta hiện nay có 31 cơ quan nghiên cứu khoa học, trong đó có 13 viện, 6 trung tâm thuộc các Bộ, nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, thú ý v..v… Gần đây, một số cơ sở được trang bị khá tốt như Viện Khoa học kỹ thuật Việt Nam, Viện chăn nuôi, Viện di truyền, Viện nghiên cứu ngô, Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu long, Viện cà phê Eamak. Trung tâm bông Nha hố, Viện thổ nhưỡng nông hoá v.v… Tuy nhiên, việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn thấp. Mức đầu tư bình quân cho một cán bộ nghiên cứu khoa học của Việt Nam hiện nay khoảng 3000 USD, chỉ bằng 1/10 các nước trong khu vực.

Hàng năm, ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học chỉ đáp ứng khoảng 60-70% tổng qũi lương và các chi phí hoạt động khác. Phần thiếu hụt, các cơ quan nghiên cứu phải tự lo liệu. Vì vậy các nghiên cứu thường thiên về nghiên cứu ứng dụng hơn là nghiên cứu cơ bản.

–   Về bồi dưỡng kiến thức cho người lao động nông nghiệp: Đây là vấn đề quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Cần coi trọng cả hai hướng bồi dưỡng:

+ Bồi dưỡng kiến thức cho người lao động hiện tại thông qua các hình thức thích hợp như phổ biến kỹ thuật mới, mô hình trình diễn, tham quan v.v…

+ Bồi dưỡng kiến thức cho người lao động trong tương lai thông qua việc dạy các kiến thức khoa học kỹthuật nông nghiệp cơ bản cho học sinh trong các trường phổ thông.

–   Mở rộng tăng cường chất lượng công tác thông tin khoa học công nghệ bằng cách phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thống kê, thông tin, xuất bản, thư viện, các trường học và các đoàn thể quần chúng… để làm tốt việc tuyên truyền phổ biến các tin tức khoa học công nghệ nông nghiệp của nước ta và của thế giới trong đông đảo cán bộ khoa học công nghệ và trong quần chúng lao động ở nông thôn.

Lựa chọn hình thức chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ thích hợp cho các hộ gia đình nông dân và các trang trại.

Từ thực tiễn hoạt động khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp cho thấy, các công nghệ cải tiến và công nghệ mới đều là kết quả nghiên cứu từ các nguồn sau đây:

–   Từ đúc rút kinh nghiệm thực tế của nông dân.

–   Từ những kết quả nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học nông nghiệp trong nước.

–    Nhập nội từ nước ngoài qua hoạt động hiệp tác khoa học công nghệ hay chuyển giao công nghệ.

Đúc rút kinh nghiệm thực tế của nông dân, cải tiến công nghệ của họ để phổ biến rộng rãi là việc làm thường xuyên, thường mang lại hiệu quả và dễ áp dụng với các nông hộ khác. Tuy nhiên số lượng và chất lượng cũng như tốc độ phát triển các công nghệ mới ngày càng phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu của các cơ quan khoa học và chuyển giao các kết quả đó cho nông dân bằng những hình thức thích hợp.

Lịch sử phát triển nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp thế giới đã lần lượt xuất hiện 5 mô hình sau đây:

a.  hình chuyển giao công nghệ tuyến tính:Mô hình này coi việc nghiên cứu phát minh và phổ biến các công nghệ mới là một quá trình tuyến tính từ các Viện nghiên cứu đến các trạm trại khảo nghiệm, rồi qua các tổ chức khuyến nông chuyển giao cho nông dân. Đây là mô hình chiếm ưu thế vào những năm 50 và 60. Nhược điểm cơ bản nhất của mô hình là coi cái hiện đại, cái mới nhất là cái tốt nhất, xem thường tính đặc thù về sinh thái của từng địa phương; coi nông dân là người thụ động tiếp thu công nghệ mới. Do vậy kết quả đạt được rất hạn chế

b.  hình chuyển giao công nghệ thích ứng.

Mô hình này thịnh hành vào những năm 70 và đầu những năm 80. Đặc điểm cơ bản của mô hình là đã chú trọng tính thích ứng của kỹ thuật, tính địa phương của công nghệ nông nghiệp. Tuy nhiên về cơ bản vẫn là mô hình tuyến tính, chưa thể hiện được các yêu cầu cụ thể của nông dân, chưa phản ánh được kinh nghiệm và khả năng của họ. Mô hình đã thất bại với nông dân nghèo hay với những vùng sinh thái bất lợi, không có điều kiện cung ứng vật tư kỹ thuật cần thiết.

c.   Mô hình nghiên cứu hệ thống canh tác.Mô hình này nổi lên vào giữa những năm 1970 và thịnh hành vào những năm 80 nhằm giúp những nông dân nghèo về nguồn lực, cùng họ chọn lựa cây trồng và qui trình canh tác thích hợp với sinh thái trên đồng ruộng của họ, phù hợp với nguồn lực của họ. Trong mô hình này, những vấn đề và nội dung nghiên cứu giải quyết được xác định bởi yêu cầu và bối cảnh của nông dân hơn là ý muốn của các nhà khoa học hay các quyết định có trước của các nhà quản lý. Hơn nữa, quá trình thực hiện tiến bộ công nghệ diễn ra theo cơ chế phản ánh qua lại nhiều lần giữa nông dân và các nhà nghiên cứu, qua thử nghiệm trên đồng ruộng.

d.  hình nghiên cứu bắt đầu từ nông dân.Đây là mô hình được thực hiện từ cuối những năm 1980. Quá trình nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp là một quá trình khép kín, bắt đầu từ nông dân qua các nhà khoa học và viện nghiên cứu rồi quay trở lại nông dân (Nông dân – Viện Nghiên cứu, Nhà khoa học – Nông dân). Vòng khép kín này vận dụng liên tục mà điểm chọn xuất phát phải được bắt đầu từ những thông tin của nông dân, từ thực nghiệm trên đồng ruộng của nông dân và có sự tham gia giám sát của họ. So với mô hình nghiên cứu hệ thống canh tác nói trên, mô hình nghiên cứu bắt đầu từ nông dân có điểm khởi đầu cơ bản hơn và trở thành quan điểm chính thống trong nghiên cứu áp dụng tiến bộ kỹ thuật cho nông dân ở nhiều nước.

e.   hình cải tiến đa nguồn.Mô hình cải tiến đa nguồn bổ sung cho mô hình nghiên cứu bắt đầu từ nông dân ở chỗ nó nhấn mạnh tính phi tuyến của quá trình. Cụ thể là các kỹ thuật mới của nông nghiệp được đưa ra từ nhiều nguồn khác nhau về không gian và thời gian; các tiến bộ là đa dạng về vật liệu gen hay các phương pháp trồng trọt, chăn nuôi … Mô hình này được đề xuất vào năm 1981 và được coi là không thể thiếu được từ năm 1990.

Tuy nhấn mạnh tính “đa nguồn”, tính phi tuyến của quá trình nghiên cứu chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, nhưng mô hình này cũng coi trọng hơn việc chuyển giao cho nhau những vật liệu gen và các ý tưởng mới, chứ không chỉ khép kín lại để nghiên cứu và thử nghiệm.

Các mô hình trên đã lần lượt xuất hiện theo yêu cầu của thực tiễn sản xuất và nghiên cứu. Cái sau hoàn thiện hơn và bổ sung cho cái trước. Ngày nay mô hình nghiên cứu bắt đầu từ nông dân và mô hình cải tiến đa nguồn là hai mô hình tiến bộ hơn và bổ sung cho nhau. Chúng đang được sử dụng rộng rãi.

Thường xuyên có những nghiên cứu tổng kết các điển hình tiên tiến Việt Nam, tổ chức nhân điển hình tiên tiến về tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất.

Hiện nay trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp đã xuất hiện nhiều điển hình tốt về các mặt kinh tế – xã hội, về áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Tuy nhiên việc nhân lên và mở rộng các điển hình ấy là rất quan trọng nhưng đang gặp khó khăn. Muốn giải quyết tốt vấn đề này cần chú ý:

–   Từng ngành từng địa phương cần xác định rõ những tiến bộ khoa học công nghệ nào về trồng trọt, chăn nuôi, chế biến … đã được kết luận, những tiến bộ nào cần tiếp tục khảo nghiệm. Từ đó cần có những chương trình mà mục tiêu là nhân các điển hình tiến tiến đã khẳng định, mở rộng phạm vi áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ đã được kết luận.

–    Phối hợp tốt giữa các cấp, các ngành quản lý nông thôn và phát huy sức mạnh của các tổ chức quần chúng trong nông thôn dấy lên phong trào học tập và nhân điển hình tiên tiến áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ.

–   Dành kinh phí cho tổ chức thực hiện

Thực hiện có hiệu quả việc phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại.

Lịch sử phát triển nông nghiệp ở các nước Tây và Bắc âu cho thấy có hai xu hướng đối lập nhau: Nông nghiệp công nghiệp hóa là nền nông nghiệp được công nghiệp cải tạo tận gốc, được bắt đầu tư cách đây hơn 200 năm, từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên ở Tây âu. Nền nông nghiệp công nghiệp hoá sử dụng nhiều máy móc thiết bị, kể cả thiết bị điện tử, tiêu tốn nhiều năng lượng hoá thạch. Nền nông nghiệp công nghiệp hoá, với qui trình công nghệ nghiệm ngặt đã biến nông nghiệp thành một công đoạn nối liền nhà máy (sản xuất đầu vào) đến nhà máy (chế biến nông sản đầu ra). Trong quá trình đó, ảnh hưởng của hoá học ngày càng sâu rộng với phân hoá học, hoá chất trừ sâu bệnh cỏ dại, chất kích thích sinh trưởng v.v…. Kết quả lớn nhất mà nền nông nghiệp công nghiệp hoá tạo ra là năng suất cây trồng, năng suất gia súc và năng suất lao động sống rất cao. Hậu quả lớn nhất mà các nền nông nghiệp công nghiệp hoá đang phải đối mặt là chất lượng sản phẩm và môi trường sinh thái xuống cấp, đặc biệt là đất và nước.

Xu hướng thứ hai là phát triển nền nông nghiệp hữu cơ. Xu hướng này đã manh nha từ vài ba thập kỷ, song phát triển còn chậm. Nền nông nghiệp hữu cơ chủ trương hạn chế dùng quá mức phân hoá học, các hoá chất, các chất kích thích và coi trọng bản chất tự nhiên của cây trồng vật nuôi, không coi chúng là những “máy sản xuất” để chuyển đổi các hoá chất và thức ăn tổng hợp thành thức ăn cho người. Theo phương châm đó hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ đã phát triển ở Đức, Mỹ, Nhật Bản và một số nước Tây Âu khác. Ví dụ ở Mỹ đã có 25.000 trang trại nông nghiệp hữu cơ kinh doanh 3% diện tích canh tác. ở Đức nông sản hữu cơ đã chiếm 1% tổng sản lượng nông nghiệp. ở Nhật nông nghiệp hữu cơ đã cung cấp lương thực thực phẩm cho 3 – 5% dân số nước này.

ở Việt Nam, chúng ta đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Đây là một chủ trương sáng suốt của Đảng ta để đẩy mạnh sự phát triển của một nền nông nghiệp còn lạc hậu. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế của một nước đi sau, chúng ta cần rút kinh nghiệm từ những bài học không thành công mà các nước khác đã trải qua trong quá trình công nghiệp hoá. Cụ thể là, nông nghiệp nước ta cần được phát triển theo hướng kết hợp hài hoà cả hai xu hướng: Nông nghiệp công nghiệp hoá và nông nghiệp hữu cơ, phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại hoá. Để thực hiện thành công sự phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại hoá ở Việt Nam, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Tăng cường hơn sử dụng các loại phân bón hoá học một cách hợp lý, phù hợp với từng loại cây trồng, từng loại chất đất ở mỗi địa phương. Bởi vì hiện nay ở nước ta, mức sử dụng phân hoá học mới đạt 100-120 kg NPK/ha là thấp so với mức 400-500kg NPK/ha ở các nước phát triển hay 600-800kg NPK/ha ở Bỉ, Hà Lan.

–   Sử dụng kết hợp các giải pháp phòng trừ dịch bệnh bằng hoá chất với việc phòng trừ bằng các phương tiện vi sinh, thảo mộc. Triển khai mạnh mẽ chương trình IPM không những với cây lúa mà cả với những cây trồng khác.

–   Khuyến khích việc khôi phục và phát triển hơn nữa các phong trào của cuộc: “Cách mạng xanh” đã phát triển khá mạnh trước đây như: Bón phân chuồng, phân bắc; làm điền thanh mô, làm bèo hoa dâu và các hình thức làm phân xanh khác.

–    Khuyến khích việc sản xuất và sử dụng ngày càng rộng rãi các loại phân bón vi sinh và các chế phẩm vi sinh vật khác.