Bối cảnh chung của Marketing quốc tế trong 35 năm qua

Bối cảnh chung của Marketing quốc tế trong 35 năm qua
Đánh giá bài viết

Tổng hợp tình hình kinh tế toàn cầu trong 35 năm qua (1970 – 2005), Trung tâm Đào tạo á – Âu (INSEAD) và chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã rút ra 5 xu thế lớn sau[10]:

1. Tổng sản phẩm toàn cầu và thu nhập bình quân

Trong vòng 35 năm qua, tổng sản phẩm toàn cầu gấp hơn 4 lần và thu nhập bình quân theo đầu người gấp hơn 3 lần.

Theo giáo sư Hellmut Schutte, (chuyên gia Marketing quốc tế của INSEAD, người đã tham gia giảng dạy ở nhiều trường đại học lớn của hơn 30 nước khác nhau trên thế giới Mỹ, EU, Nhật Bản….), đây là xu thế nổi bất trước hết của kinh tế toàn cầu. Xu thế chung này chi phối sâu sắc kinh tế từng ngành cụ thể, ở từng thị trường khu vực cụ thể và là cơ sở cho việc nghiên cứu thị trường thế giới của các công ty quốc tế.

Theo đánh giá của H. Schutte và nhiều chuyên gia khác, sản xuất của thế giới trong suốt thời gian qua phát triển khá nhanh với mức tăng trưởng trung bình hàng năm trên 4% (gấp đôi so với thời kỳ trước Thế chiến 2). Một trong những nguyên nhân cơ bản của kết quả đó là sự phát triển mạnh mẽ của các cuộc cách mạng khoa học – công nghệ. Bản thân cách mạng khoa học – công nghệ đã thúc đẩy năng suất lao động tăng nhanh, nhiều nguyên liệu mới và máy móc thiết bị mới ra đời, nhiều ngành công nghiệp mới liên tiếp xuất hiện (công nghiệp dệt, hoá chất, điện tử, vi điện tử, hàng không, vũ trụ).

Đơn cử năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ 21, GDP toàn cầu đạt 31.121 tỷ USD, trong đó 7 nước có mức GDP vượt 1000 tỷ USD, gồm Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc và Italia. Riêng Mỹ, GDP năm 2001 đạt 10.065 tỷ USD, gần bằng 1/3 GDP toàn cầu. Cũng năm 2001, toàn cầu đã có 37 nước đạt mức GDP trên 100 tỷ USD (xem bảng 1.4), trong khi đó năm 1993 con số này mới chỉ có 28 nước. Đến năm 2005, GDP toàn cầu đạt 44.454,8 tỷ USD, gồm có 48 nước đạt mức GDP vượt 100 tỷ USD, trong đó 9 nước vượt 1000 tỷ USD, cụ thể là Mỹ: 12.455,8 tỷ USD, Nhật Bản: 4.567,4 tỷ, Đức: 2.791,7 tỷ, Trung Quốc: 2.234,1 tỷ, Anh: 2.229,5 tỷ, Pháp: 2.126,7 tỷ, ý: 1.765,5 tỷ, Canada: 1.132,4 tỷ và Tây Ban Nha đạt 1.126,6 tỷ.

Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng của thu nhập bình quân theo đầu người chậm hơn so với tổng sản phẩm toàn cầu. Sự không tương đồng giữa hai xu thế này, theo giáo sư H. Shutte, là do hai nguyên nhân chính sau đây:

Một là, mức tăng trưởng dân số quá nhanh của các nước đang phát triển (ĐPT) diễn ra liên tục trong suốt nhiều năm qua. Mặc dù Liên hiệp quốc và chính phủ ở các nước ĐPT đã rất cố gắng trong việc kiềm chế sự bùng nổ dân số nhưng nhìn chung, kết quả đạt được dường như còn quá ít. Tính đến giữa năm 2005, dân số toàn cầu đã lên tới gần 6,5 tỷ người, trong đó, dân số các nước ĐPT lên tới gần 5,3 tỷ (chiếm 81,3%), với mức tăng trưởng là 1,5% so với mức 0,1% của nhóm nước phát triển. Đặc biệt là ở Châu Phi, lục địa nghèo nhất, đồng thời, có mức tăng dân số cao nhất với 2,3% trong năm 2005. Hầu hết ở các nước chậm phát triển, mức tăng dân số quá nhanh hàng năm đã triệt tiêu kết quả tăng trưởng kinh tế. Nhiều nhà kinh tế đã nhấn mạnh tình trạng đó [15].

Hai là, theo giáo sư H. Schutte, có hai khuynh hướng khác nhau về bản chất của tăng trưởng và phát triển cụ thể là:

– Khuynh hướng tăng trưởng tương đồng với phát triển. Điều này thường có thể đạt được với điều kiện:

  •  Nguồn nhân lực được phát triển tốt,
  •  Việc lập kế hoạch của chính phủ hợp lý,
  •  Chuyển giao công nghệ có hiệu quả,
  •  Giáo dục đào tạo tốt và đạo đức lao động tốt,
  •  Trình độ chuyên môn tốt,
  •  Việc làm được giải quyết tốt.

– Khuynh hướng tăng trưởng không tương đồng với phát triển (growth but underdevelopment) nếu như:

 

  •  Nguồn tài nguyên không được sử dụng tốt, môi trường bị huỷ hoại,
  •  áp lực quá tải về dân số,
  •  Những kỳ vọng không thực tế,
  •  Chủ nghĩa quan liêu (bureaucratism) đồng hành với tham nhũng (corruption),
  •  Chạy theo đồng tiền (money elite),
  •  Bất bình đẳng (giữa người quản lý và người lao động).