Bối cảnh chung của thế giới trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ

Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng đã tham gia vào nhiều hiệp định thương mại, tạo cơ hội cho hoạt động xuất nhập khẩu các hàng hóa nói chung, các mặt hàng công nghiệp nói riêng. Trong xu thế hội nhập, tỉnh cũng đã có nhiều cải cách về thể chế và môi trường đầu tư, tạo điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp cho người lao động.

Trước bối cảnh của cuộc cách mạng CN lần thứ 4 đang được tạo nên bởi sự hội tụ của các công nghệ như IoT- Internet kết nối vạn vật, rô bốt cao cấp, công nghệ in ấn 3D, điện toán đám mây, công nghệ di động không dây, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, khoa học về vật liệu tiên tiến, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử, v.v… Các công nghệ của ngành CN và CNHT sẽ mang tính liên ngành sâu rộng, sự tiếp cận và xử lý số lượng lớn các yêu cầu từ khách hàng tại cùng một thời điểm, dung lượng lưu trữ dữ liệu không giới hạn, sự tương tác giữa máy móc và thế giới sinh học, trí thông minh nhân tạo, sẽ là nền tảng để xuất hiện các mô hình thiết kế về phụ tùng linh kiện hấp thụ trí tuệ nhân tạo, sản phẩm được SX theo yêu cầu cụ thể của khách hàng, hệ thống SX về CNHT có khả năng linh hoạt điều chỉnh theo thay đổi của nhu cầu xã hội, tạo ra lợi ích tối ưu nhất cho các bên liên quan. Sự tích hợp các công nghệ thông minh khác nhau trong một chiếc xe ô tô nhằm tăng sự tiện ích và an toàn cho người sử dụng.

Xu hướng gia tăng các dự án FDI về CNHT. Hiện nay, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đang đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN để khai thác thị trường phụ tùng linh phụ kiện. Sau thảm họa kép (động đất và sóng thần năm 2011) ở Nhật Bản và tình hình suy thoái của thị trường nội địa, các tập đoàn đa quốc gia và cả hệ thống DNNVV ở Nhật Bản đã có nhiều dự án đầu tư về SX CNHT và các ngành CN chế tạo ra nước ngoài, do các DN trong quá trình tái thiết cần tìm địa điểm SX ổn định và bền vững. Đối với ta, có Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Đức… đây là thời điểm của làn sóng đầu tư ra nước ngoài của các nước này, trong đó, Việt Nam đang được xem là một trong những đối tác tiềm năng trong đầu tư SX cũng như chuyển giao công nghệ. Khác với Nhật Bản là nhà đầu tư đã xây dựng được chuỗi cung ứng ngoài nước khá hiệu quả, đặc biệt ở khu vực ASEAN, các nước trên đang trong giai đoạn lựa chọn đối tác mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Đây có thể là cơ hội lớn để Việt Nam đẩy mạnh thu hút đầu tư cho phát triển CNHT.

Mặt khác, các TĐĐQG có thể chuyển SX phụ tùng linh kiện và cung ứng sang các nước khác nhau cho mạng lưới SX toàn cầu của họ. Điều này liên quan đến các DN cung ứng ở các lớp thứ nhất, thứ 2 và các DN ở lớp dưới trong mạng lưới. Phần lớn thị trường toàn cầu của các TĐĐQG đã và đang được mở rộng và việc cung ứng các linh kiện phụ tùng trong các lĩnh vực liên quan do các TĐĐQG kiểm soát. Do vậy, vai trò của các TĐĐQG trong quyết định đầu tư SX phụ tùng linh kiện ở quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là quan trọng đối với sự phát triển ngành CNHT của quốc gia đó.

Khu vực ASEAN vẫn đang là một địa chỉ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Sau một thời gian các nước phát triển đầu tư vào Trung Quốc, thì hiện nay nhiều công ty muốn phân tán đầu tư sang các nước khác. Để tận dụng được cơ hội thu hút đầu tư, Việt Nam cần nhanh chóng phát triển CNHT để hấp dẫn các tập đoàn này. Bởi ngành CNHT thường có hàng nghìn chủng loại phụ tùng linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đến những loại có công nghệ cao.

Hội nhập AFTA theo cam kết, các nước thành viên phải giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5% trong vòng 10 năm. Theo đó, 6 nước thành viên cũ của ASEAN, gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan sẽ hoàn thành việc cắt giảm thuế quan xuống 0-5% vào 2003 và đối với Việt Nam là 2006. Tuy nhiên, để theo kịp xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa, các nước ASEAN đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2010 đối với ASEAN 6 và 2015 có linh hoạt đến 2018 đối với 4 nước thành viên mới là Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam (CLMV). Như vậy đến 2015, Việt Nam sẽ cơ bản xóa bỏ thuế quan với các mặt hàng. Do vậy, đây là cơ hội cũng là thách thức đối với CNHT của Việt Nam vì sẽ phải cạnh tranh với các nước cùng khu khu vực khi mà hàng rào thuế quan đã được dỡ bỏ.

Thực tế ngành CNHT ở Việt Nam đang ở giai đoạn bắt đầu. Nếu ngành các ngành công nghiệp ở nước ta còn chưa thay đổi để đáp ứng yêu cầu thực tế, nếu chưa có nhiều DN FDI về CNHT đầu tư vào nước ta, thì ngành CNHT sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển. Điều này đòi hỏi những nhà làm chính sách cần có quyết tâm mạnh mẽ khuyến khích nhiều DN ngành CNHT đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nếu không thì DN FDI sẽ chuyển hướng đầu tư sang nước khác.

Các vấn đề toàn cầu khác cũng đã và đang gây ra không ít tác động tiêu cực cho tình hình kinh tế thế giới. Đó là biến đổi khí hậu, các cuộc xung đột nổ ra khiến chi phí quốc phòng của nhiều quốc gia gia tăng. Vấn đề già hóa dân số thế giới diễn biến phức tạp tại các quốc gia phát triển và xu hướng không kiểm soát được mức tăng dân số của nhiều nước đang phát triển. Vấn đề tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt… Từ thực tế đó, kinh tế thế giới sẽ tác động tới Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Nhờ những lợi thế của Việt Nam về địa chiến lược, với đường bờ biển dài, Việt Nam đang án tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng có tới 50% giao thương quốc tế qua lại. Đặc biệt với môi trường hòa bình, ổn định, Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ gặp phải là nhu cầu thị trường thế giới giảm, từ đó dẫn đến nguy cơ hàng hóa của các nước sẽ đổ dồn vào thị trường Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với kinh tế giới. Các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam với các ưu đãi không kiểm soát được ở các địa phương sẽ gây ra tình trạng nhà đầu tư nước ngoài áp đảo nhà đầu tư trong nước. Cụ thể hiện nay, các dự án FDI đã chiếm tới 70% giá trị sản xuất công nghiệp, khoảng 67% giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Các dự án FDI vào Việt Nam chủ yếu theo hai hướng: đầu tư vào các ngành gây ô nhiễm môi trường như hóa dầu, luyện kim…hoặc các ngành có tính gia công, lắp ráp. Đây là những lĩnh vực không tác động nhiều tới xu hướng phát triển của Việt Nam trong tương lai [42].