Bối cảnh kinh tế – xã hội trong những năm tới

Nền kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2017 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi, các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu đạt mức tăng trưởng khả quan với hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu có xu hướng cải thiện rõ rệt cùng với niềm tin của người tiêu dùng tăng lên là các yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước. Trong năm 2017, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được sự ổn định cao được thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô: tăng trưởng GDP ước đạt 6,81% với sự đóng góp lớn của hoạt động xuất khẩu và chi tiêu nội địa; tình trạng lạm phát được kiểm soát chặt chẽ; mức lạm phát của Việt Nam năm 2017 ở mức dưới 4%. Những thành quả về kinh tế – xã hội này xuất phát từ sự điều hành hợp lý và hiệu quả trong việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá cùng với sự kiểm soát chặt chẽ giá cả của Chính phủ. =

*Tăng trưởng kinh tế: Năm 2017 là năm nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng khởi sắc, nền kinh tế đã có sự phục hồi rõ rệt với mức tăng trưởng cả năm đạt 6,81% cao hơn mức đề ra là 6,7% của Quốc Hội và đạt mức cao nhất so với các năm trong giai đoạn 2011-2017. Như vậy, điều này đã phản ánh sự điều hành hiệu quả cao của Chính phủ trong việc đưa ra các giải pháp kích thích, thúc đẩy nền kinh tế cũng như sự nỗ lực và phối hợp của các cấp, ngành và địa phương trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng trưởng. Sự phục hồi của nền kinh tế rõ nét nhất đối với khu vực nông – lâm – ngư nghiệp với mức tăng trưởng cả năm là 2,90%. Mức tăng trưởng ngành thuỷ sản và lâm nghiệp trong khu vực này lần lượt là 5,54% và 5,1%. Mức tăng trưởng của khu vực dịch vụ cả năm đạt 7,44% với mức tăng trưởng cao nhất thuộc về lĩnh vực tài chính – ngân hàng và kinh doanh bất động sản với mức tăng trưởng lần lượt là 8,14% và 4,07%. Mức tăng trưởng đối với khu vực chế biến chế tạo cả năm đạt 14,40%; trong khu vực này ngành khai khoáng hiện đang có sự giảm sút về mức tăng trưởng đã làm cho khu vực công nghiệp và xây dựng giảm mức tăng trưởng với mức tăng trưởng cả năm chỉ đạt 8% thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

Tình trạng lạm phát: Trong năm 2017, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ mặc dù tỷ lệ lạm phát có sự gia tăng trong tháng 8 và tháng 9 do yếu tố mùa vụ nhưng cả năm lạm phát đã giảm mạnh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tại thời điểm 12/2017 chỉ tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân chủ yếu làm cho tỷ lệ lạm phát ở mức thấp như vậy là do giá cả được kiểm soát chặt chẽ và chỉ tăng đối với một số mặt hàng thiếu yếu như giáo dục và y tế. Cụ thể, giá dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng cho đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế ở nhiều tỉnh, thành phố đã làm cho mức giá của nhóm hàng này tăng 27,79% so với năm 2016. Ngoài ra, giá dịch vụ giáo dục cũng tăng mạnh vào thời điểm tháng 8 và tháng 9 năm 2017 đã làm cho chỉ số giá của nhóm này tăng 7,29%. Đối với nhóm hàng giao thông, mặc dù giá của nhóm hàng này liên tục tăng sau các đợt điều chỉnh giá xăng dầu nhưng tính đến thời điểm tháng 12/2017 chỉ số giá của nhóm này cũng chỉ tăng 6,04% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngân sách Nhà nước: Mặc dù Ngân sách Nhà nước (NSNN) tiếp tục bội chi trong những năm gần đây nhưng đến năm 2017 thâm hụt NSNN đã có những bước chuyển biến tích cực như sau: Thu cân đối NSNN vượt 71.000 tỷ đồng tính đến thời điểm cuối năm 2017 ước đạt 1.283,2 nghìn tỷ đồng vượt 71 nghìn tỷ đồng, vượt 5,9% so với dự toán. Các nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN tính đến ngày 31/12/2017 về cơ bản đã thực hiện xong theo dự toán; đã đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN. Chi đầu tư phát triển từ nguồn NSNN chiếm khoảng 75,9% so với dự toán, vốn trái phiếu chính phủ chiếm khoảng 23,5% dự toán. Bội chi NSNN năm 2017 là 174,3 nghìn tỷ đồng bằng 3,48% GDP nằm trong phạm vi dự toán Quốc Hội quyết định; cân đối NSTW và NSĐP được đảm bảo trên cơ sở thực hiện kết quả thu NSNN và cắt giảm đối với các nhiệm vụ chi NSNN chưa cần thiết.

Thị trường tài chính – tiền tệ: Năm 2017, chính sách tiền tệ được thực hiện chặt chẽ và linh hoạt. Ngân hàng Nhà nước đã triển khai các biện pháp để giảm lãi suất nhằm hỗ trợ DN và tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực cao trong điều hành chính sách tiền tệ tạo sự ổn định với tính thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và duy trì lãi suất liên ngân hàng ở mức phù hợp nhằm ổn định và giảm lãi suất thị trường. Dự trữ ngoại hối đạt mức cao ước đạt 51,5 tỷ USD vào cuối năm 2017 tạo điều kiện thuận lợi về mặt không gian chính sách cho sự can thiệp của NHNN vào thị trường tài chính – tiền tệ. Hơn nữa, sự tăng trưởng ổn định đối với lượng kiều hối cũng góp phần ổn định tỷ giá. Bởi vậy, việc duy trì nới lỏng tiền tệ và giảm lãi suất nhằm thúc đẩy nền kinh tế được NHNN thực hiện một cách thuận lợi.

Dự báo nền kinh tế vĩ mô giai đoạn 2018-2020: Căn cứ vào kết quả dự báo của Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ; 3 kịch bản dự báo đối với nền kinh tế vĩ mô được đưa ra:

Kịch bản thứ nhất được xây dựng dựa trên những điều kiện bình thường của nền kinh tế. Theo đó, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2018-2020 ước đạt 6,71%/năm, bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 6,63%/năm; đóng góp của tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP tăng từ 32,07% năm 2018 lên 35,49% năm 2020 lạm phát ước tính ở mức dưới 4%/năm qua các năm (tính theo chỉ số giá CPI bình quân); kim ngạch xuất khẩu được dự báo giảm còn 12,15% năm 2018 và 9,63% năm 2019; cán cân thương mại biến động giữa thặng dự và thâm hụt bình quân đạt -0,19% GDP trong giai đoạn 2018-2020 và 0,24% GDP giai đoạn 2016-2020.