Bối cảnh quốc tế ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh và định hướng giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian tới

Chúng ta đang sống trong một thế giới với nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, có  ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội – chính trị – văn hóa – an ninh quốc phòng của từng quốc gia, từng dân tộc. Những biến đổi đó là:

Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ, có nhiều bước nhảy vọt khiến cho khoa học và công nghệ. Đặc biệt, tại nhiều quốc gia, nơi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra mạnh mẽ, tạo nên những bước phát triển vượt bậc trong nhiều lĩnh vực, nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ với hai đặc trưng cơ bản là xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức. Điều đó đã và đang đặt ra cho các quốc gia đang và kém phát triển như Việt Nam từ trước tới nay vốn coi nguồn lao động rẻ là lợi thế so sánh đang mất dần ý nghĩa. Sự xuất hiện và phổ biến rộng rãi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nền sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên toàn  thế giới có bước chuyển biến rõ rệt, đòi hỏi các quốc gia cần phải dịch chuyển nền sản xuất của họ lên mức trên trong chuỗi giá trị (toàn cầu) hoặc mở rộng sang các ngành sản xuất có nhiều hàm lượng chất xám, năng suất cao, sử dụng các kỹ năng để đảm bảo tăng trưởng và thu nhập. Đây là một động lực tích cực để giảm nghèo, khi mà phần lớn thành công trong GN của Việt Nam đến từ việc tăng thu nhập bình quân của hộ nghèo (Ngân hàng Thế giới, 2018, tr.24). Năng lực tài chính thấp và thiếu khả năng tiếp cận tài chính, trình độ học vấn thấp… là những rào cản chủ yếu để người nghèo có thể tiếp cận với nền sản xuất mới trong thế giới công nghệ 4.0.

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đòi hỏi chất lượng nhân lực trình độ cao. Đây là yêu cầu mà người lao động vùng miền núi khó đạt được. Có thể nói rằng, với chất lượng nhân lực như hiện tại, trước mắt, người nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An “ đứng ngoài” quá trình này.  Đây là  vấn đề thiệt thòi  cho  lao động vùng miền núi. Điều này cũng nói lên để có việc làm, tạo thu nhập, qua đó thực hiện GNBV cho người nghèo vùng miền núi là vấn đề rất nan giải đối với chính quyền các cấp trong bối  cảnh hiện nay.

Thứ hai, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã tạo đà thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa mọi mặt đời sống kinh tế – chính trị – xã hội toàn cầu, như là xu thế khách quan trên thế giới. Cạnh tranh gia tăng và ngày càng gay gắt, tác động to lớn tới mô hình tăng trưởng định hướng xuất khẩu của Việt Nam, một mặt, đặt ra những thách thức trong việc tiếp tục duy trì tăng trưởng và việc làm; mặt khác, mở ra cơ hội để thúc đẩy GN thông qua gia tăng thu nhập, cải thiện chất lượng công  việc của người dân.  Tuy nhiên, cùng với tiến trình toàn cầu hóa và biến đổi mọi mặt đời sống xã hội, một thách thức to lớn dành cho Việt Nam trong việc GN đó chính là khoảng cách thu nhập, phát triển giữa các vùng miền, khi mà số lượng người nghèo ở Việt Nam còn rất lớn, trong đó chủ yếu là người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, DTTS . Các yếu tố như dân tộc, địa hình và nghèo đói có sự tương tác với nhau, đại đa số người nghèo có mức thu nhập dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, mức thu nhập dù tăng nhưng nằm ở phía đầu thấp của thang lương (Ngân hàng Thế giới, 2018, tr.26).

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra cho chúng ta nhiều cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm nói chung và cho người nghèo cho vùng miền núi nói riêng. Đó là lực lượng lao động các nước gia nhập vào thị trường lao động Việt Nam, đồng thời đó là xu hướng di chuyển ra nước ngoài của lao động của Việt Nam.

Để nắm lấy cơ hội và vượt qua thách thức đó, lao động vùng miền núi phải  nâng cao trình độ chuyên môn, đảm bảo lao động lành nghề, có ngoại ngữ, tin học tốt, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp hiện đại, có hiểu biết đối với luật pháp và các thông lệ trên quốc tế… Những vấn đề này tự bản thân lao động vùng miền núi không  thể thực hiện được, đòi hỏi phải có sự góp sức của các lực lượng xã hội mà người lĩnh xướng là Nhà nước và chính quyền các cấp

Thứ ba, nền kinh tế thế giới có nhiều biến chuyển nhanh chóng, các quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội,… đan xen phức tạp. Sự thay đổi nhanh chóng, toàn diện trong nền sản xuất, dịch vụ của toàn thế giới đặt các quốc gia, các vùng lãnh thổ vốn dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và lao động thủ công, giá rẻ đứng trước nguy cơ “bị bỏ lại phía sau”, khi mà công nghệ, mạng internet kết nối vạn vật và các nhà máy thông minh sử dụng trí thông minh nhân tạo có thể khiến cho khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, các vùng miền lớn hơn. Với thực trạng KT-XH vùng miền núi Nghệ An hiện nay sẽ rất khó có cơ hội và khả năng để rút ngắn khoảng cách và bắt kịp tốc độ phát triển chung. Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế – chính trị – xã hội đã, đang và đặt ra cho thế giới, nhất là các quốc gia đang và kém phát triển cần có nhiều nỗ lực lớn hơn trong vấn đề XĐGN, vốn được đề cập khá rõ trong chương trình Nghị sự sau năm 2015 của Liên Hợp quốc có tên “Thay đổi thế giới của chúng ta: Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững” – Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development. Trong số 17 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong giai đoạn mới, có 9 mục tiêu trực tiếp đề cập tới vấn đề nghèo đói và XĐGN tại các quốc gia như:

Mục tiêu số 1. Chấm dứt nghèo đói dưới mọi hình thức ở mọi nơi.

Mục tiêu số 2: Chấm dứt nạn đói, đảm bảo an ninh về lương thực cho người dân và cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

Mục tiêu số 3. Đảm bảo cuộc sống cho người dân được tốt và thúc đẩy hạnh phúc cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi.

Mục tiêu số 4. Đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện và thúc đẩy cơ hội giúp cho tất cả mọi người có cơ hội được học tập suốt đời.

Mục tiêu số 5. Đạt được bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em gái được  trao quyền  trong đời sống xã hội.

Mục tiêu số 7. Đảm bảo khả năng tiếp cận năng lượng hợp lý, đáng tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người.

Mục tiêu số 8. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, phát triển    toàn diện, tạo việc làm đầy đủ, công việc tử tế cho tất cả mọi người.

Mục tiêu số 10. Giảm bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia.

Mục tiêu số 16. Đẩy mạnh các xã hội hòa bình và toàn diện vì phát triển bền vững, cung cấp quyền tiếp cận luật pháp cho tất cả mọi người và xây dựng các tổ chức hiệu quả, đáng tin cậy, toàn diện ở mọi cấp độ (Liên Hợp quốc, 2015).

Để có thể thực hiện tất cả các mục tiêu trên, đòi hỏi phải có sự hợp tác toàn cầu của các chính phủ, các xã hội dân sự, lĩnh vực tư nhân và hệ thống cơ quan Liên Hợp quốc cũng như các đối tác khác. Liên Hợp quốc kêu gọi sự chung sức của toàn cầu  trong nỗ lực XĐGN và thực hiện GNBV, tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, điều này không dễ để thực hiện nếu không có quyết tâm mạnh mẽ của toàn thế giới. Điều này cũng đòi hỏi chính quyền địa phương ở các quốc gia cần có những nỗ lực trong huy động nguồn lực quốc tế cho công cuộc GN cũng như  có thể  học tập kinh  nghiệm từ các địa phương ở các quốc gia khác trong việc xây dựng, áp dụng và thực thi các chính sách GNBV.