Bối cảnh quốc tế khi Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT

Đài Loan tham gia sâu vào chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu trong bối cảnh thế giới bắt đầu bước vào thời kỳ khu vực hóa và toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa đã làm gia tăng sự tiếp nối giữa các nền kinh tế, các quốc gia với nhau thông qua việc mở rộng dòng công nghệ, thông tin, vốn, hàng hoá, dịch vụ và con người trên toàn thế giới. Toàn cầu hoá mở rộng trong thế kỷ XXI khiến các công ty xuyên quốc gia không ngừng cấu trúc lại, hình thành các tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế. Thế giới sẽ hình thành các siêu công ty và thương mại điện tử sẽ trở thành một sân chơi mới. Toàn cầu hoá lan nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu khiến nền sản xuất thế giới mang tính chất toàn cầu.

Tự do hoá về thương mại, đầu tư, tài chính tiếp tục được mở rộng. Hội nhập kinh tế và vai trò của các tổ chức quốc tế trở thành một nội dung của toàn cầu hoá. Hội nhập nhấn mạnh đến tính chủ động tham gia của các nước vào quá trình toàn cầu. Toàn cầu hoá kinh tế và hợp tác quốc tế là một quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Xu thế khu vực hoá trong bối cảnh toàn cầu cũng sẽ gia tăng mạnh hơn. Sự cạnh tranh thương mại giữa các khối tổ chức khu vực ngày càng gia tăng. Xu thế toàn cầu hoá kinh tế với tốc độ nhanh đến chóng mặt đang làm tăng cơ hội lựa chọn cho các nước, nhưng cũng đ òi hỏi các nước phải tham gia hội nhập khu vực, coi đó là bước đi cơ bản để hội nhập toàn cầu và tránh những rủi ro khi hội nhập ra toàn thế giới.

Những đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa và khu vực hóa đã đặt Đài Loan vào nhiều cơ hội và thách thức mới. Cơ hội lớn nhất là có thể đưa Đài Loan tham gia dễ dàng vào nền kinh tế toàn cầu, bởi đất nước này đã có những phát triển vượt bậc trong các ngành công nghiệp tập trung nhiều vốn và lao động, có nguồn nhân lực chất lượng cao và có kỹ năng. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho Đài Loan từ toàn cầu hóa cũng không phải là ít. Đài Loan buộc phải tham gia các tổ chức toàn cầu, như WTO, tự do hóa các ngành công nghiệp và tài chính trong nước, nới lỏng kiểm soát ngoại hối, thực hiện nhanh chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu để thích ứng với dòng thác khoa học công nghệ trên thế giới và thích ứng với chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cùng với toàn cầu hóa, Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu về CNTT trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba trên thế giới bắt đầu vào cuối thập niên 1980. Cuộc cách mạng CNTT bắt đầu từ Mỹ, mở đầu bằng sáng chế máy tính điện tử vào giữa thế kỷ XX, đưa cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào giai đoạn tự động hóa và trí năng hóa phương tiện vật chất, thông minh hóa phương tiện kỹ thuật. Cuộc cách mạng công nghệ và cách mạng thông tin lần thứ tư song hành nhau, đưa con người vượt qua mọi cản trở của không gian và thời gian, mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa tăng tốc.

Sự giao lưu giữa các nền văn hóa và văn minh nhanh nhạy và hiệu quả chưa từng có. Thông tin và công nghệ tạo thành một dòng thác chung, cuốn hút mọi dân tộc, mọi quốc gia. Biểu tượng đặc trưng của cuộc cách mạng CNTT lần này là mạng internet, bao gồm bao gồm việc tạo lập các thế hệ máy tính có tốc độ tính toán hàng triệu đến hàng tỉ phép tính/giây, chế tạo các bộ nhớ thông tin có khả năng lưu trữ được toàn bộ tri thức của nhân loại trong suốt lịch sử phát triển của nền văn minh, hình thành và lưu giữ cơ sở dữ liệu mà bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào cũng có thể truy cập thông qua mạng lưới các máy tính được điều khiển tự động… Cuộc cách mạng thông tin lần thứ tư đã tạo ra những thách thức mới đối với nhiều quan niệm truyền thống của xã hội loài người. Theo đó, nền văn minh công nghiệp chuyển thành nền văn minh thông tin với các siêu xa lộ thông tin toàn cầu.

Cuộc cách mạng thông tin đã mở ra một kỷ nguyên mới với các “luật chơi” mới mà không một ai có thể đứng ngoài cuộc. Cuộc cách mạng CNTT đã góp phần rất lớn trong tăng trưởng kinh tế của các nước có công nghệ nguồn như Mỹ. Chẳng hạn trong giai đoạn 1991-1995, đóng góp của CNTT đối với tăng trưởng kinh tế của Mỹ là 0,79%/năm, giai đoạn 1996-2000 đóng góp tới 1,86%/năm.Cũng từ cuối thập kỷ 1980, nhiều học giả trên thế giới bắt đầu đánh giá CNTT là một nhân tố quan trọng của sản xuất, cùng với nhân tố vốn và lao động.

Cũng từ cuối thập kỷ 1980, các dịch vụ CNTT như viễn thông đã trở thành ngành kinh doanh độc quyền của các nước và các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Các NIE trong đó có Đài Loan đã không nằm ngoài xu hướng này. Do CNTT là ngành tập trung nhiều vốn, nên trong giai đoạn đầu ngành này phát triển rất chậm ở khu vực Đông Á, trong đó có Đài Loan. Từ giữa thập kỷ 1980, nhiều nước đã nhận thức được tầm quan trọng của tư nhân hóa ngành CNTT và vai trò của FDI đối với sự phát triển của ngành này, vì vậy ngành CNTT ở nhiều nước Đông Á đã được tư nhân hóa và thu hút FDI. Đặc biệt, từ đầu thập kỷ 1990, các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapore cùng với nhiều nước khác đã bắt đầu chú trọng đầu tư vào ngành CNTT. Cũng từ đầu thập kỷ 1990, các chuỗi cung ứng trong ngành CNTT bắt đầu phát triển nhanh và mạnh ở Đông Á.

Trong giai đoạn 1996-2005, giá trị xuất khẩu các sản phẩm CNTT đã tăng lên gấp đôi, đạt 1,5 nghìn tỷ USD vào năm 2005, trong đó khu vực Đông Á dẫn đầu trong xuất khẩu sản phẩm CNTT, trong đó Đài Loan là một trong những nước dẫn đầu về xuất khẩu sản phẩm này trong khu vực Đông Á. Nhờ có cuộc cách mạng CNTT trên thế giới và sự mở rộng mạng lưới thương mại trong sản phẩm CNTT ở khu vực Đông Á, Đài Loan đã tận dụng những lợi thế trong nước để phát triển ngành công nghệ này, đưa nó trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Kể từ khi cách mạng CNTT bùng nổ, sản xuất tại nước ngoài phát triển rất nhanh trong lĩnh vực này. Các nhà lãnh đạo của các chi nhánh OEM đã thiết lập được hệ thống điểm sản xuất, bán hàng mới ở nước ngoài và trong một số trường hợp các cơ sở sản xuất này đã xác lập được vị trí chắc chắn của mình trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Các OEM của Mỹ như Compaq, Dell, Hewlett – Packard, IBM, Intel…ngày càng mở rộng mạng lưới của mình ra thế giới, trong đó có khu vực Đông Á. Nhờ sự phát triển của mạng lưới sản xuất toàn cầu đã hình thành nên mạng OEM mới. Hãng Electronics đã thành lập 62 nhà máy tại nhiều nước trên thế giới, hãng Soletron cũng đã xây dựng nhiều công xưởng, nhà máy chế tạo tại 70 nước, hãng SCI cũng có 100 nhà máy được thiết lập trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng các nhà chế tạo theo hợp đồng trong ngành điện tử của Châu Á rất nhanh. Số lượng các nhà sản xuất theo hợp đồng trong thời kỳ 1996-2000 tăng 50% và tổng thu nhập trong thời kỳ này đã tăng lên 4 lần. Tỷ lệ tăng trưởng của công nghiệp điện tử Châu Á gần đây chủ yếu do quá trình M&A tạo nên.

Năm 2001 các hãng Châu Á giành được 13% số hợp đồng chế tạo, năm 2002 tăng lên 16,3%. Gần đây các nhà sản xuất theo hợp đồng của Châu Á đối với các hãng công nghiệp điện tử lớn của Mỹ đang tăng. Suốt cả thập niên 1990, các hợp đồng trong lĩnh vực CNTT có quy mô lớn mà các hãng Châu Á giành được đều dựa vào nguồn tài chính của Mỹ và Châu Âu cung cấp. Điều này đã tạo cơ hội thuận lợi cho các nước Đông Á tập trung đầu tư vào hoạt động sáng tạo, tổ chức lại mạng lưới sản xuất mới có thể giành được những hợp đồng lớn và mở rộng mạng lưới sản xuất tại Đông Á. Sự phát triển nhanh mạnh của ngành công nghệ điện tử thông tin trên thế giới đã buộc các nước Đông Á, trong đó có Đài Loan, phải linh hoạt trong việc đầu tư vào các doanh nghiệp điện tử thông tin của nước này, đa dạng hóa sản xuất các loại sản phẩm, mở rộng mạng lưới cung cấp linh kiện và gia công hàng hóa cho các hãng nước ngoài, đồng thời phải dung hóa lợi ích giữa các OEM và các nhà sản xuất theo hợp đồng, từ đó nắm bắt các bí quyết công nghệ và các kỹ năng quản lý, dần dần nâng cấp ngành CNTT của nước mình dưới sự hỗ trợ chính sách tích cực của chính phủ.