Bối cảnh trong nước ảnh hưởng đến vai trò của chính quyền cấp tỉnh và định hướng giảm nghèo bền vững vùng miền núi tỉnh Nghệ An thời gian tới

Việt Nam tiếp tục đối  mặt với nhiều thách thức trong đó có những bất ổn địa chính  trị của các nước trong khu vực và quốc tế. Xuất khẩu hàng hóa và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam có thể chậm lại do nhiều nguyên nhân, trong đó xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch sẽ có tác động mạnh, từ đó tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế và khả năng tạo việc làm mới.

Xét các yếu tố nội tại, các động lực tăng trưởng chính của những năm trước không còn giữ vai trò lớn, tăng trưởng sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong đó, các động lực sau sẽ  có sự suy giảm lớn, như: sự tiếp diễn suy giảm của ngành khai khoáng; giảm tiêu dùng tư nhân, củng cố xu hướng tiết kiệm của hộ gia đình. .

Dự báo thời gian tới, có nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước và nhiều yếu tố gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như “chi phí không chính thức”, “tính năng động của chính quyền”, “tiếp cận đất đai”  và “cạnh tranh bình đẳng”. Trong khi đó, tái cơ cấu kinh tế chưa phát  huy tác động,  nền tảng kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, nợ công cao, mà thu ngân sách không  mấy  triển vọng, sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.  Do đó, kịch bản thứ nhất có  thể diễn ra. Điều này đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức đối với GNBV, đòi hỏi    Nhà nước cũng như các cấp chính quyền phải nỗ lực để thực hiện mục tiêu GN ở Việt Nam thời gian tới. Đó là:

Thứ nhất, theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, mức độ an toàn kinh tế của người nghèo giảm dần trước những tác động của các cú sốc kinh tế. Hiện tiền lương là nguồn thu nhập lớn nhất của các gia đình Việt Nam khiến cho độ nhạy cảm của nền  kinh tế  nói chung, người nghèo nói riêng đối với các cú sốc tăng lên, nhất là khi người nghèo chỉ lao động trong khu vực có lương thấp, độ an toàn về kinh tế chưa cao. Điều này đặt chính quyền địa phương phải đối mặt với việc xây dựng các chính sách GN phải phù hợp với từng đối tượng người nghèo (phân theo vùng địa lý và trình độ giáo dục) để có thể đạt được những mục tiêu GN cụ thể. Đòi hỏi ưu tiên hàng đầu của toàn bộ nền kinh tế là tạo ra các việc làm tốt hơn,đảm bảo tăng lương hàng năm lương mà không làm   ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của nền kinh tế. Để có thể giúp nền kinh tế gia tăng   cạnh tranh, gia tăng năng suất lao động, đòi hỏi cần có nhiều chính sách giáo dục chất lượng, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng  để bắt kịp nhu cầu tăng do sản lượng,  tăng khả năng tiếp cận nguồn tài chính đối với các hộ nghèo thông qua chính sách linh hoạt…; cần thay đổi các chuẩn mực mới về chính sách xã hội, chính sách hỗ trợ cho người nghèo, trong đó các mục tiêu GN cần mang tính toàn diện hơn, giúp GNBV và tránh nguy cơ tái nghèo.

Thứ hai, cải cách hệ thống hành chính công chưa phù hợp với yêu cầu GNBV. Cơ chế quản lý, phân công, phân cấp về GNBV của Việt Nam hiện vẫn đang trong quá  trình hoàn thiện, cần nhanh chóng sửa đổi nhằm tạo ra cơ chế quản lý thống nhất, phân nhiệm rõ ràng giữa các bên liên quan trong công tác GN. Xu hướng cải cách quản lý công nói chung, quản lý nhà nước về GNBV nói riêng trong thời gian tới là gia tăng sự chồng chéo chính sách GN xuất phát từ sự chồng chéo trong thiết kế các chương trình, chính sách GN ở các cấp đã, đang và sẽ giảm hiệu quả của chính sách GNBV, nhất là    ở các vùng miền núi cao, vùng DTTS .

Thứ ba, chênh lệch về phát triển và thu nhập giữa các vùng miền gây khó khăn trong hoạch định, xây dựng, triển khai thực hiện các chính sách GN trên phạm vi cả nước,  do đặc thù của từng vùng miền và trình độ phát triển khác nhau. Điều này đòi   hỏi cần có sự gia tăng quyền tự chủ, tự quyết của chính quyền địa phương trong xây dựng, triển khai các cơ chế đặc thù nhằm GNBV cho địa phương mình, cũng như đòi hỏi sự phối hợp của các đoàn thể chính trị – xã hội, sự nhận thức và vươn lên của chính những người nghèo trong xã hội. Trong giai đoạn mới, việc phân cấp, phân  quyền  mạnh cho các chính quyền địa phương về phát triển KT-XH sẽ góp phần tăng tính tự chủ, tự quyết, chủ động của chính quyền các tỉnh trong điều hành nền kinh tế địa phương, trong đó có công tác GN.