Bối cảnh trong nước khi Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT (1990-2001)

Cũng trong năm 1990, chính phủ đưa ra một sắc lệnh điều tiết đặc biệt nhằm nâng cấp các ngành công nghiệp bằng tăng cường đầu tư R&D và hạn chế ô nhiễm môi trường. Năm 1991, Kế hoạch xây dựng quốc gia 6 năm bắt đầu được thực hiện, trong đó các ngành công nghiệp viễn thông, thông tin, điện tử tiêu dùng, máy móc thiết bị chính xác, vật liệu bán dẫn, dược… được tập trung phát triển. Từ thập niên 1990, Đài Loan đã giành được vị trí dẫn đầu thế giới trong một số lĩnh vực như bán dẫn, vi mạch. Đài Loan có ngành công nghiệp ICT đứng thứ ba thế giới (sau Mỹ và Nhật, trên Đức và Hàn Quốc). Năm 1991, chính quyền Đài Loan ra Luật Thúc đẩy Nâng cấp Ngành. Luật này cho phép các doanh nghiệp Đài Loan được hưởng khấu trừ thuế nếu họ đầu tư vào thực hiện các biện pháp nâng cấp ngành như thực hiện R&D, đào tạo nguồn nhân lực, áp dụng tự động hóa, phát triển các sản phẩm mang nhãn hiệu nội địa, kiểm soát ô nhiễm, tái chế và bảo tồn năng lượng…

Kể từ năm 2000 đến nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Đài Loan chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ Trung Quốc. Đài Loan ứng phó bằng cách chuyển hướng sang nền kinh tế đổi mới-sáng tạo. Một trong những biện pháp để thực hiện chuyển hướng là phát triển các cụm liên kết ngành. Thập niên đầu thế kỷ XXI đến nay, Đài Loan phát triển nền kinh tế chú trọng sáng tạo-đổi mới và liên kết với toàn cầu. Các ngành công nghiệp được Đài Loan tập trung phát triển trong thế kỷ XXI gồm du lịch, y tế và chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, văn hóa và nghỉ dưỡng, nông nghiệp cao cấp.

Vào năm 2000, Đài Loan sửa đổi Đạo luật nâng cấp các ngành công nghiệp, trong đó nhấn mạnh đến “các ngành công nghiệp mới quan trọng” và có những chính sách uu đãi đầu tư và khuyến khích thuế hợp lý. Danh sách các ngành công nghiệp mới quan trọng được ban hành ngay sau đó, bao gồm 8 ngành: bán dẫn, máy tính, viễn thông, điện tử chính xác (bao gồm cả LCD), vũ trụ, song học, hóa chất đặc biệt, công nghệ xanh, vật liệu tiên tiến, dịch vụ công nghệ. Trong 8 ngành đó, có 3 ngành thuộc CNTT. Năm 2002, quốc hội thực hiện chính sách “Thách thức 2008 – challenge 2008).

Đây được đánh giá là kế hoạch phát triển quốc gia 6 năm nhằm tăng cường tính cạnh tranh quốc tế của Đài Loan, với mục tiêu là: 1) Phát triển ít nhất 15 sản phẩm công nghệ đứng thứ hạng cao trên thế giới; 2) tăng gấp đôi khách du lịch nước ngoài vào Đài Loan; 3) Tăng chi tiêu R&D lên 3% GDP; 4) Giảm thất nghiệp xuống dưới 4%; 5) Đạt tăng trưởng kinh tế 5%/năm; 6) Mở rộng số lượng người sử dụng internet lên 6 triệu người; 7) Tạo 700.000 việc làm;

Năm 2002, công nghiệp nội dung số (CNNDS) trở thành một trong hai ngành thuộc kế hoạch “hai ngàn tỷ – hai ngôi sao sinh đôi” (Two Trillion, Twin Stars) của Đài Loan. Theo kế hoạch này, công nghiệp bán dẫn và LCD được chính quyền Đài Loan chú trọng đầu tư và phát triển. Sự bùng nổ của ngành công nghiệp bán dẫn từ đầu thập kỷ 2000 đã đưa Đài Loan trở thành nơi sản xuất chip điện tử, DRAM và máy tính xách tay lớn trên thế giới. Kế hoạch Two trillion được thực hiện trong năm 2002-2010 với hàng loạt các ưu đãi về thuế, chi tiêu R&D, đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư. Tháng 4 năm 2002, để phục vụ cho kế hoạch này, một kế hoạch đầu tư R&D mang tên “Đảo Silicon – Silicon island) đã được ban hành với mục đích tập trung nghiên cứu hệ thống các chip điện tử.

Quan trọng hơn, chính quyền Đài Loan đã lập ra các nguồn quỹ đặc biệt cho các trường đại học để mở rộng các chương trình đào tạo liên quan đến lĩnh vực bán dẫn. Chính quyền cũng thực hiện chương trình đào tạo nguồn nhân lực mới để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt về nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp bán dẫn. Một số viện nghiên cứu liên quan đến công nghệ bán dẫn được ưu tiên đầu tư, trong đó có Công ty chế tạo sản phẩm bán dẫn (TSMC) thuộc khu chế xuất Cao Hùng. Vào năm 2002, TSMC đã trở thành hãng sản xuất vật liệu bán dẫn đầu tiên lọt vào Top 10 công ty sản xuất mạch tích hợp IC bán được sản phẩm rộng rãi trên thị trường thế giới. Họ đã nhận được sự tín nhiệm và hợp tác từ nhiều hãng lớn của Mỹ như Qualcomm, Broadcom, Nvidia, và cả những công ty mới có sản phẩm tung ra thị trường trong 6 tháng vừa qua hoặc vẫn đang trong giai đoạn phát triển (chiếm gần một nửa số 300 khách hàng của hãng) như NuCORE – công ty công nghệ số và analog trong Silicon Valley.

NuCORE đã đặt quan hệ làm ăn với TSMC kể từ khi hãng này xuất xưởng loại chip đầu tiên vào năm 2001. Trong vòng hai năm qua, các kỹ sư của TSMC đã hợp tác với NuCORE trong kế hoạch mới sản xuất một bộ vi xử lý có tên mã là Puma. Sản phẩm này sẽ giúp các nhà sản xuất phim của Mỹ kết hợp được những video đa phương tiện có độ phân giải cao vào trong máy quay xách tay. Nvidia, công ty hàng đầu về thiết kế chip đồ họa máy tính cho các dòng máy chơi game như Xbox của Microsoft hay PlayStation của Sony, cũng đã tìm đến TSMC. Với nguồn quỹ đầu tư 400 triệu USD cho nghiên cứu, TSMC tuyên bố lập kế hoạch sản xuất một transistor với khoảng cách giữa 2 kênh dẫn (line width) chỉ là 10 nanometre – một thế hệ phải mất 10 năm nữa mới hoàn thành. Bức tranh của ngành công nghệ bán dẫn Đài Loan khá sáng sủa khi những nhà máy sản xuất chip theo hợp đồng thống lĩnh thị trường thế giới với giá trị 16 tỷ USD.Các nhà máy Đài Loan đã trở thành chìa khóa thành công của hầu hết công ty thiết bị bán dẫn Mỹ và họ mang đến cho khách hàng cả một “thư viện” thiết kế chip-đó là các phần mã mà nhà phát triển có thể bổ sung vào thiết kế gốc.

Nhìn chung, sự phát triển của ngành CNTT Đài Loan kể từ thập niên 1980 cho đến nay được đặt trong bối cảnh Đài Loan đã có sự tích lũy vốn vật chất và vốn con người hiệu quả trong giai đoạn trước đó. Ở giai đoạn này, Đài Loan tiếp tục tăng chi tiêu R&D, đạt ở mức trên 2,5% GDP vào những năm cuối thập niên 1980, đồng thời chú trọng tập trung phát triển thương hiệu cho các sản phẩm make in Taiwan. Đây cũng là giai đoạn thế giới đánh giá Đài Loan đã chuyển dần từ nhà sản xuất thiết bị gốc (Original equipment manufacturer- OEM) sang nhà thiết kế gốc (Original design manufacturer- ODM) trong nhiều sản phẩm công nghiệp. Nhờ chi tiêu mạnh cho R&D, Đài Loan đã trở thành một trong những nơi có nhiều bằng phát minh sáng chế nhất thế giới, trung bình là khủng 10.000 bằng sáng chế/năm (9.907 bằng sáng chế vào năm 2011), chỉ đứng sau Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Pháp, Anh. Kể từ năm 1981, Đài Loan đã trở thành nhà xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ lớn trên thế giới, luôn đạt thặng dư thương mại cao, đặc biệt trong các hàng hóa xuất khẩu tập trung nhiều công nghệ. Trong giai đoạn 1984-1994, tỷ lệ hàng công nghệ cao chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Đài Loan, năm 2001 chiếm 50,6%.

Các nhà kinh tế học hàng đầu như Paulm Krugman, Alwyn Young và một số người khác đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ đầu tư cao cho R&D và nguồn nhân lực đã tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Đài Loan kể từ đầu thập niên 1980 cho đến đầu thập niên 2000. Cũng từ năm 1981, Đài Loan luôn đạt thặng dư thương mại lớn trong suốt mấy thập niên qua. Vào năm 2003, thặng dư thương mại đạt mức kỷ lục 22 tỷ USD, trong khi trung bình giai đoạn 1981-2003 thặng dư thương mại của Đài Loan đạt trung bình 5-10 tỷ USD/năm [83]. Thặng dư thương mại cao liên tục đã đưa Đài Loan trở thành nơi có dự trữ ngoại tệ lớn, chỉ sau Nhật bản và Trung Quốc. Đài Loan trở thành nhà cung cấp lớn trên thế giới trong rất nhiều sản phẩm chế tạo, trong đó có các sản phẩm CNTT, với các thương hiệu nổi tiếng. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, Đài Loan đã nhanh chóng chuyển từ hàng nông nghiệp và chế biến nông nghiệp xuất khẩu (gạo, đường, thực phẩm đóng gói) sang hàng hóa chế tạo công nghệ thấp (dệt may, chế tạo sắt théo, máy móc) sang hàng hóa công nghệ cao (sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị điện, sản phẩm thông tin và viễn thông). Nếu như trong thập niên 1960, Đài Loan là nơi xuất khẩu nấm và măng tây nổi tiếng trên thế giới, thì trong thập niên 1980 Đài Loan đã có trên 12 sản phẩm xuất khẩu trên thế giới. Chẳng hạn vào năm 1983, Đài Loan đã xuất khẩu tới 520 triệu đôi giày da, 11 triệu cái ô, trên 6 triệu racket tennis, 3,16 triệu máy khâu (chiếm 80% thị trường xuất khẩu máy khâu trên thế giới), 240 triệu xe máy (chiếm 70% thị trường xuất khẩu xe máy mini trên thế giới), 80 triệu xe đạp (chiếm 50% thị trường xuất khẩu trên thế giới)…

Sang thập niên 1990, Đài Loan đã trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu lớn nhất về máy tính cá nhân và các thiết bị CNTT. Vào năm 1998, Đài Loan được đánh giá là một trong 3 nước chế tạo các sản phẩm CNTT lớn nhất thế giới, đứng sau Mỹ và Nhật Bản.