Các bên liên quan ngoài doanh nghiệp may Việt Nam

Khách hàng: Các DN may thời gian qua đã có sự tăng trưởng nhanh với những thành quả vượt trội. Khách hàng của các DN may đến từ nhiều quốc gia  khác nhau. Theo VITAS (2018), các DN may Việt Nam có tới 80% DN xuất khẩu cho khách hàng ở các thị trường lớn là: Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong đó, Mỹ là một trong những khách hàng  lớn nhất của các DN may Việt Nam, thị phần của thị trường này chiếm gần 40- 50% các đơn hàng (xem hình 7- phụ lục 09); Các khách hàng ở thị trường này đã và đang thắt chặt hơn các quy định về TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ và các hoạt động phát triển bền vững.

Nhà cung ứng: Để hoạt động kinh doanh của các DN may diễn ra thường xuyên và liên tục thì đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu đầu vào là yếu tố mang   tính sống còn trong chiến lược kinh doanh của các DN may Việt Nam.  Theo VITAS (2017): “trong năm 2017 các DN may đã tiêu thụ hết 8,9 tỷ m2 vải nhưng các nhà máy trong nước chỉ sản xuất được 2,8 tỷ m2 vải, còn lại phải nhập khẩu  hơn 6 tỷ m2 vải và phụ liệu, với tổng giá trị gần 17 tỷ USD”. Các nhà cung ứng  đảm bảo nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho DN nhưng cũng có thể gây ra những áp lực về việc thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ.

Hiện nay, các DN may vẫn chủ yếu nhập khẩu nguyên phụliệu của Trung Quốc. Hạn chế về cung ứng nguyên liệu tại thị trường trong nước thực sự là khó khăn lớn của các DN may nhất là khi CPTPP đã được Việt Nam thông qua. Cùng với đó quan hệ hợp tác, liên kết của các DN may với nhà cung  ứng trong và ngoài nước của các DN chưa được đẩy mạnh.

Cộng đồng: Là nơi các DN may nương tựa và phát triển. Có thể nói áp lực từ cộng đồng sẽ là một tác nhân quan trọng để thúc đẩy các DN may thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ. Sự phát triển nhanh của DN may khiến cho nhu cầu kiểm soát, giám sát luôn được đặt ra. Vì vậy cộng đồng cần tham gia giám sát các DN thực hiện TNXH, đảm bảo quyền cho NLĐ. Cộng đồng bằng kiến kiến thức chuyên môn của mình có thể tham gia góp ý, biện luận và phê phán một vấn đề, quá trình kinh tế xã hội nào đó để TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ đạt hiệu quả cao hơn. Cộng đồng cùng với các cơ quan quản lý Nhà nước tham gia xây dựng, giám sát các chế độ chính sách của các DN may thông qua việc thương lượng ký kết TƯLĐTT, xây dựng thang bảng lương theo Nghị định 49-CP, giám sát việc thực hiện Nghị định 141-CP về mức lương tối thiểu vùng; tổ chức tuyên truyền phổ biến các chủ trương đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cho NLĐ, DN; tổ chức cuộc tập huấn, tuyên truyền về văn hóa công nhân. Tuy nhiên, tại một số địa phương tiếng nói của cộng đồng nói chung còn khá yếu trong việc gây sức ép buộc DN thực thi TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ. Vì thế một số DN may đặc biệt là các DN nhỏ còn chủ quan, chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà xem nhẹ áp lực của cộng đồng.

Qua điều tra thực trạng các nhân tố  khách quan  ảnh hưởng  đến TNXH đối với NLĐ của các DN may (xem hình 3.13) thấy được: Các bên liên quan  ngoài  DN ảnh hưởng nhất (3,43/5,0), sau đó là các CoC về TNXH đối với NLĐ (3,26/5,0), tình hình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế (3,11/5,0), cuối cùng là QLNN về TNXH đối với NLĐ (2,78/5,0). Kết quả này thống nhất với nghiên cứu của Murillo & Lazano, 2006; Perrini et al, 2007; Saulquin & Schier, 2010; cho rằng áp lực từ các bên liên quan của DN như: Khách hàng và nhà cung ứng, cộng đồng ảnh hưởng nhất đến TNXH đối với NLĐ của các DN.