Các biện pháp khắc phục thua lỗ của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua

Thời gian qua,nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp để khắc phục tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước.Trong đó có các biện pháp đặc trưng nhất:

1.Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế quản lí,cơ cấu lại nền kinh tế.Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là huy động vốn trong và ngoài nước,thay đổi phương thức quản lí,thay đổi trang thiết bị đầu tư mở rộng sản xuất đồng thời để người lao động tham gia quản lí nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn có lãi.

Tính đến ngày 31/12/2001 toàn quốc có 875 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi sở hữu,riêng năm 2001 có 255 doanh nghiệp.Các doanh nghiệp được chuyển đổi sở hữu theo hình thức cổ phần hoá là 722 doanh nghiệp.Đến cuối 12/2002 cả nước có 920 doanh nghiệp cổ phần hoá.Thống kê ngày 20/12/2003 thì có 360 doanh nghiệp nhà nước hoàn thành chuyển đổi sở hữu,trong đó 312 doanh nghiệp cổ phần hoá.

Trong số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá có 60 doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá kinh doanh thua lỗ(ví dụ:sứ Bát Tràng,nước mắm Thanh Hương,chè Bảo Lộc,du lịch Tam Đảo,điện tử Phú Thọ,khách sạn Hải Vân Nam…)số còn lại khi lãi khi lỗ.

Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều phát triển tốt,không chỉ bảo toàn và phát triển được vốn tăng thu cho ngân sách mà còn duy trì mức trả cổ tức cho các cổ đông ở mức bình quân từ 10-15% năm.Qua cổ phần hoá 722 doanh nghiệp nhà nước đã huy động được trên 2440 tỷ đồng vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển các doanh nghiệp cổ phần hoá và củng cố doanh nghiệp nhà nước cần thiết nắm giữ,bao gồm:1470 tỷ đồng thu từ bán phần vốn nhà nước và thu thêm 970 tỷ đồng thông qua bán đấu giá cổ phần cao hơn giá sànvà phát thêm cổ phần thu hút vốn.Các công ty cổ phần có mức tăng lợi nhuận đáng kể so với trước khi cổ phần là:Đại lí liên hợp vận chuyển 4,1 tỷ đồng lên 45,7 tỷ đồng,cao su Sài Gòn từ 2,3 tỷ lên 23 tỷ đồng.
Ngoài ra các danh nghiệp cổ phần hoá còn tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước.

2.Thành lập các tập đoàn kinh doanh.

Theo quyết định 91/TTg của thủ tướng chính phủ về việc thành lập các tập đoàn kinh doanh.Sự thành lập tập đoàn kinh doanh sẽ tạo ra được mức độ tập trung vốn cao,tạo điều kiện cho công ty có thể đổi mới công nghệ, phương pháp sản xuất.

Trước đây các xí nghiệp sản xuất của ta(nhất là các doanh nghiệp nhà nước) có trình độ trang bị kĩ thuật lạc hậu,không đồng bộ,bị xuống cấp nghiêm trọng.Các doanh nghiệp thì đều ở tình trạng thiếu vốn để đổi mới công nghệ do vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế rất kém.Ví dụ như công ty dệt may:trong ngành dệt có trên 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm,máy dệt khổ hẹp chiếm 80%,thiết bị nhuộm hoàn tất chỉ có 10% vào loại khá,35% phải nâng cấp thay thế.Do đó sản phẩm dệt may do Việt Nam làm ra kém cả về chất lượng và hình thức mẫu mã.Khi thành lập tổng công ty,vốn được tích tụ tập trung,có điều kiện thay đổi máy móc kĩ thuật nên ngành dệt may Việt Nam đã có nhiều khởi sắc,trở thành một trong những ngành đưa về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.

Mặt khác,có thể thấy rằng việc thành lập các tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh doanh được coi là một trong các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về kinh tế.

3.Giải pháp giải quyết vấn nợ và hàng hoá ế thừa.

Ngày 3/5/1998 Chính phủ đã ban hành nghị định 30CP về quy định chuyển lỗ trong kinh doanh.Theo nghị định này các doanh nghiệp được Nhà nước cho khoanh nợ ,chuyển nợ sang các năm sau,khoanh nợ số hàng tồn kho,tạm bỏ gánh nặng nợ nần để tìm giải pháp kinh doanh hợp líý ,đạt doanh thu cao ,kiếm lợi nhuận ,dần trả nợ sau.Đây là biện pháp rất phù hợp với tình hình các doanh nghiệp nhà nước hiện nay,do hầu hết câc DNNN thua lỗ đều chịu gánh năng phần thua lỗ từ năm trước đẻ lại,như ở công ty gang thép Thái Nguyên được Nhà nước khoanh nợ ,đầu tư vốn cho công nghệ đã có những bước chuyển lớn.

NgoàI ra nhà nước còn ban hành Luật phá sản(1993),Luật thương mại,luật doanh nghiệp…nhằm giải quyết các vấn đề về cảI thiện môI trường kinh doanh ,cân đối lại hệ thông doanh nghiệp.Nhà nước cũng liên tục tâng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước.Năm 2001 vốn của mỗi doanh nghiệp bình quân là 20tỷ thì đến cuối năm 2003 mỗi doanh nghiệp vốn bình quân là 45 tỷ.
Những biện pháp nói trên của Nhà nước đã phần nào giảm được tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp trong thời gian qua,tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều doanh nghiệp thua lỗ ,đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp cùng phối hợp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn đó.