Các chỉ số đánh giá môi trường kinh tế

 

Có nhiều chí số kinh tế được sử dụng để đánh giá hiệu năng và tiềm năng của nền kinh tế một đất nước. Một số  trong đó có thể là các chỉ số không chính thống hoặc đặc trưng cho từng nước – ví dụ – lượng điện thoại không dây hoặc vòng đời của một tờ báo. Trên thực tế, khi dự đinh kinh doanh ở nước ngoài, nhà kinh doanh cân khởi sự xem xét giá trị tiền tệ của dòng hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế quốc gia, sau đó là các vấn đề khác như tốc độ tăng trường, phân phối thu nhập, lạm phát, thất nghiệp, tiền lương, năng suất, nợ và cán cân thanh toán. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể các yếu tố này.

 1.TỔNG THU NHẬP QUỐC GIA

Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income – GNI) là thu nhập tạo bởi tất cả các hoạt động sản xuất trong nước và quốc tế của các công ty một quốc gia. GNI là giá trị của mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế nội địa cộng với thu nhập ròng (như tiền thuê, lợi nhuận, thu nhập nhân công) từ nước ngoài trong vòng 1 năm. Về mặt kỹ thuật, GNI là giá trị thị trường của mọi hàng hóa dịch vụ mới được sản xuất bởi các nhân tố sản xuất trong nước. Ví dụ, giá trị của xe thể thao Ford (SUV) làm ở Hoa Kỳ và phần giá trị của Ford SUB làm ở Mehicô sử dụng vốn và quản lý của Hoa Kỳ, tất cả đều được tính trong GNI của Hoa Kỳ. Ngược lại, phần giá trị của xe Toyota Nhật SUV sản xuất ở Hoa Kỳ, nhưng sử dụng vốn và quản lý của Nhật lại tính vào GNI của Nhật chứ không phải Hoa Kỳ. Bảng 4.1 cho thấy 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo GNI.

Tổng sản phẩm nội địa: GNI là thước đo bao quát nhất của các hoạt động kinh tế trong một nước. Một phần cơ bản cấu thành GNI là tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product – GDP) – là tổng giá trị của mọi hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong biên giới của một quốc gia trong vòng 1 năm, không phân biệt các chủ thể kinh tế nội địa hay nước ngoài. Do đó, GDP đặc biệt có ích khi kinh doanh quốc tế đóng góp đáng kể trong nền kinh tế của các nước được đánh giá; ví dụ, gần 90% hàng xuất khẩu của Ireland là từ doanh nghiệp nước ngoài.

Một cách kỹ thuật, khi ta lấy GDP cộng với thu nhập từ xuất nhập khẩu, các hoạt động quốc tế của các công ty trong quốc gia sẽ được GNI. Do đó, cả xe Ford và Toyota sản xuất ở Hoa Kỳ đều tính vào GDP của Hoa Kỳ, nhưng xe Ford chế tạo ở Mehicô thì không.

Giá trị tuyệt đối của GNI cho thấy nhiều điều về các cơ hội ở thị trường trong nước. Ví dụ, Paraguay và Brazil là láng giềng ở Nam Hoa Kỳ. Paraguay có GDP 31 tỉ USD năm 2006, trong khi Brazil là 943 tỉ. Do đó, các công ty nước ngòai có xu hướng đầu tư vào Brazil và xuất khẩu sang Paraguay.

GNI là thước đo trực tiếp về quy mô tuyệt đối của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng GNI, các nhà kinh doanh có thể lầm lẫn trong việc lựa chọn quốc gia để kinh doanh. Ví dụ, các cường quốc kinh tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức đều đứng ở đầu bảng xếp hạng về GNI, gây ấn tượng là các quốc gia này giàu có hơn nhiều các nước như Ireland hoặc Luxembourg. Vì vậy, các nhà quản lý nên sử dụng GNI bằng cách kết hợp chỉ tiêu này với dân số, tốc độ phát triển, chi phí sinh hoạt địa phương và sự bền vững của nền kinh tế.

Tính toán các chỉ số trên đầu người: Cách phổ biến nhất là chia GNI cũng như nhiều chỉ  báo  kinh  tế  khác  theo  số  người  sống  trong  một  quốc  gia  để  tìm  ra  chỉ  số GNI/GDP… dựa trên đầu người.Những chỉ số này có thể cho biết GNI/GDP tương đối của quốc gia. Một cách kỹ thuật, ta tính GNI trên đầu người bằng cách chia giá trị của GNI đã được chuyển đổi sang một đồng tiền tiêu chuẩn, ví dụ như đồng USD, theo tỷ giá hối đoái phổ biến, rồi chia cho dân số.

Chỉ số này và các chỉ số khác cho thấy hiệu năng của nền kinh tế trên cơ sở số người sống trong một nước. Ví dụ, Luxembourg, một nước có nền kinh tế nhỏ nhất thế giới, giá trị tuyệt đối của GNI khá thấp, nhưng GNI trên đầu người lại cao nhất thế giới.

WB đã phân loại các nước năm 2009/2010 thành các nhóm nước/vùng lãnh thổ theo mức GNI năm 2008 như sau:

(1)    Nhóm    nước    có     thu    nhập    thấp    (có    GNI     dưới    975    USD/người)12; (2)  Nhóm nước có thu nhập trung bình (có GNI từ khoảng 976 USD/người đến 11.905 USD/người, trong đó có hai phân nhóm trung bình thấp từ 3.855 USD/người trở xuống và trung bình cao);

(3) Nhóm nước có thu nhập cao (trên 11.906 USD/người).

Ngân hàng Thế giới gọi các nước thu nhập thấp và trung bình thấp là các nước đang phát triển – developing countries. Một số nhà phân tích gọi đây là các nước mới nổi – emerging countries hoặc các nền kinh tế mới nổi – emerging economies. Đây là nhóm có số lượng quốc gia và dân cư lớn nhất trên thế giới từ trước đến giờ. Các quốc gia thu nhập cao gọi là các nước phát triển (developed countries), hoặc các nước công nghiệp (industrial countries). Nhìn chung, các quốc gia thu nhập cao nằm ở một số khu vực nhất định, chủ yếu là ở Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ và Tây Âu. Các nước này hiện chiếm 15% dân số nhưng chiếm tới 75% GNI của thế giới. Các nước thu nhập thấp trải rộng trên khắp thế giới, từ châu Á đến châu Phi, Nam Hoa Kỳ và khu vực Thái Bình Dương. Những nước này chỉ chiếm một phần nhỏ trong GNI thế giới và có GNI đầu người từ mức dưới 100 đến dưới 1000 USD.

Tỉ lệ thay đổi: các chỉ số như GNI, GDP, GDP per capita.. cho chúng ta biết kết quả hoạt động trong năm của một quốc gia, nhưng không cho biết sự biến động của các chỉ số này. Việc nghiên cứu tình hình hiện tại và dự đoán hiệu quả kinh tế tương lại đòi hỏi xác định tỉ lệ của các thay đổi. Ví dụ, từ năm 1998 đến 2002, Ireland là nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, với tốc độ 8% một năm, còn Nhật Bản, ngược lại, là nền kinh tế chậm phát triển nhất với chỉ 0.2%/năm trong cùng thời kỳ.

Nhìn chung, tỉ lệ tăng trưởng GNI cho thấy tiềm năng của nền kinh tế – nếu GNI tăng với mức nhanh hơn (hoặc thấp hơn) mức tăng dân số, mức sống của người dân sẽ tăng lên (hoặc giảm đi). Tỉ lệ tăng trưởng GNI cũng thể hiện các cơ hội kinh doanh. Ví dụ, Trung Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong vòng 25 năm trở lại đây, với tốc độ trung bình là 9% trong vài năm gần đây. Sự tăng trưởng này dẫn đến tốc độ giảm mức nghèo đói mà chưa quốc gia nào từng thấy, và hấp dẫn nguồn đầu tư nước ngoài khổng lồ. Sự xuất hiện của nền kinh tế mới nổi như Ấn độ, các nước Đông Á…. cũng kích thích sự tăng mức sống.

Sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP): Các nhà quản lý khi so sánh giữa các thị trường thường chuyển đổi chỉ số GNI của nước ngoài về đồng tiền của nước họ. Ví dụ, khi chuyển đồng rupi Ấn Độ sang USD với tỷ giá chính thức, GNI đầu người của Ấn Độ năm 2008 chỉ ở khoảng hơn 1.070 USD so với mức 47.580USD của Mỹ13. Khoảng cách này cho thấy sự khác biệt lớn giữa hai nước. Tuy nhiên, cách chuyển đổi này quá đơn giản. Tỷ giá hối đoái cho ta biết bao nhiêu đồng tiền này đổi được 1 đồng tiền kia, ví dụ, bao nhiêu rupi Ấn Độ đổi được một USD. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái không cho ta biết đồng tiền nội địa kia mua được cái gì ở Hoa Kỳ. Nói cách khác, cách tính GNI theo đầu người không xem xét đến sự khác nhau giữa chi phí sống giữa các nước mà giả định một USD ở Chicago có một “sức mua” giống như 1 USD ở Mumbai (trước đây là Bombay), cho dù chi phí sinh hoạt ở Hoa Kỳ và Ấn Độ khác nhau. Bởi thế, GNI đầu người không thể cho ta biết người ta có thể mua được bao nhiêu hàng hóa dịch vụ với một đơn vị thu nhập ở đất nước này với một đất nước khác.

Vì vậy, cần điều chỉnh GNI đầu người  theo từng nước riêng biệt dựa trên sức mua tương đương (purchasing power parity – PPP). Về mặt tính toán, PPP là số đơn vị tiền tệ của một quốc gia cần thiết để mua cùng một khối lượng hàng hóa dịch vụ trong thị trường nội địa của một nước khác. Rõ hơn, ta tính PPP bằng cách ước lượng trị giá của một “rổ” hàng hóa (như xà bông, bánh mỳ và quần áo), dịch vụ (như điện thoại, điện và năng lượng) có thể mua được bằng đồng tiền của một nước. Kết quả ước lượng của GNI đầu người dựa  trên sức mua của một nước cho ta thấy người tiêu dùng địa phương có thể mua những gì với một đơn vị thu nhập. Giá cả rổ hàng hóa ở Hoa Kỳ thường được coi là tiêu chuẩn để chuyển đổi PPP của các quốc gia khác!

Quay lại với so sánh giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ. Năm 2007, GNI đầu người theo danh nghĩa của Ấn Độ là 820 USD, còn GNI theo PPP là 3800 USD. Rõ ràng là GNI đầu người dựa theo sức mua tương đương là cao hơn, do Ấn Độ có mức chi phí sinh hoạt thấp hơn. Điều đó có nghĩa là để mua cùng một rổ hàng hóa ở Ấn Độ sẽ cần ít chi phí hơn hơn so với ở Mỹ14.

Thụy Sĩ là một trường hợp ngược lại. Vì chi phí sinh hoạt ở Thụy Sĩ cao hơn Hoa Kỳ, GNI trên đầu người theo PPP của Thụy Sĩ giảm từ 55.230 USD xuống 38.610 USD. Tương tự, mức GNI theo đầu người trung bình tại các nước thu nhập thấp năm 2008 là 585 USD và tại các nước thu nhập cao là 35.264 USD. Nhưng nếu tính theo PPP, ta sẽ thấy GNI trung bình của các nước thu nhập thấp tăng lên đến 2.470 USD và các nước thu nhập cao giảm còn 32.834 USD. Khoảng cách được thu hẹp đi khá nhiều.

Mức độ phát triển con người: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các chỉ số như GNI, PPP… quá tập trung vào tăng trưởng  chỉ dựa trên các chỉ báo về tiền tệ mà bỏ qua tầm vóc và phạm vi của mức độ phát triển. Các nhà quản lý có thể giải quyết các quan ngại trên  bằng  cách  xem  xét  mức  độ  phát  triển  con  người  của  quốc  gia  (Human development Index – HDI) – dựa trên các nhân tố xã hội và kinh tế – để ước lượng các hoạt động kinh tế hiện tại và tương lai. Chỉ số phát triển con người bao gồm chỉ báo về sức mua thực tế, giáo dục và sức khỏe để có một thước đo toàn diện về phát triển kinh tế. Sử dụng chỉ số này kết hợp các chỉ báo kinh tế và xã hội sẽ cho phép nhà quản lý đánh giá toàn diện hơn nữa sự phát triển dựa trên khả năng và cơ hội mà con người được hưởng.

Theo TS Mahbub ul Haq, người Pakistan, nhà kinh tế học và người đồng sáng tại ra Học thuyết Phát triển con người (Human Development Theory), thì:

“Mục đích cơ bản của phát triển là gia tăng lựa chọn của con người. Về cơ bản, những lựa chọn đó là vô hạn và thay đổi theo thời gian. Con người thường đánh giá các thành tựu hoàn toàn không hiện diện, hoặc không có ngay lập tức, trong chỉ số thu nhập và tăng trưởng thay vì quan tâm đến các chỉ số như: khả năng truy cập kiến thức lớn hơn, dinh dưỡng và sức khỏe tốt hơn, cuộc sống an toàn hơn, an ninh chống tội phạm và bạo lực, có đủ thời gian nghỉ ngơi, tự do chính trị và văn hóa, được tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Mục tiêu của phát triển là tạo ra một môi trường cho phép con người thụ hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo”.

Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc: từ cách nhìn nhận trên, Liên Hiệp Quốc  đã đưa ra Báo cáo Phát triển Con người dựa trên Chỉ số Phát triển Con người (Human Development Index –HDI). Cụ thể hơn, chỉ số HDI đo lường thành tựu trung bình của một nước ở 3 phương diện:

 

  • Tuổi thọ, tính theo độ tuổi trung bình từ lúc sinh ra

 

  • Kiến thức, tính theo tỉ lệ người trưởng thành biết chữ và được giáo dục cơ bản, cấp 2, và tổng tỉ lệ giáo dục cấp cao hơn.

 

  • Mức sống, đo lường bằng GNI đầu người theo PPP bằng USD.

Mục đích của báo cáo này chủ yếu nhằm nắm bắt tiến trình dài hạn của phát triển con người hơn là các thay đổi ngắn hạn.

2. MỘT SÔ CHỈ SỐ KHÁC:

Liên Hiệp Quốc đã bổ sung thêm một số chỉ số khác để đánh giá tốt hơn về giới và nghèo đói trong phát triển như:

  • Chỉ số phát triển giới (Gender – Related Development): điều chỉnh bất bình đẳng giới, đo lường mức bất bình đẳng giữa nam và nữ về tuổi đời, sức khỏe, học thức và mức sống
  • Chỉ số bình đẳng giới (Gender Empowerment): đánh giá cơ hội của phụ nữ ở một nước bằng cách xem xét sự bất bình đẳng trong việc tham gia chính trị và ra quyết định, tham gia kinh tế và quyền kiểm soát đối với các tài nguyên kinh tế
  • Chỉ số nghèo đói (Human Poverty): ước lượng mức sống của một nước bằng cách đo lường sự nghèo đói và rào cản cho việc lựa chọn, cơ hội để sống như người ta muốn

Tổng hợp lại, các chỉ báo trên sẽ giúp chúng ta có khả năng đánh giá chính xác về các thành tựu về tuổi thọ, kiến thức và mức sống của người dân tại một quốc gia.

Chỉ số đo lường Xanh (Green Measures) của GNP: Trước sự quan tâm ngày một lớn đến môi trường, nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra một số chỉ số Xanh của GNP. Các chỉ số Xanh của nền kinh tế quốc dân nhằm đo lường kết quả của nền kinh tế dựa trên phát triển bền vững. Các nhà kinh tế học xanh tuyên bố rằng kinh tế thế giới là một bộ phận cấu thành và phụ thuộc vào thế giới tự nhiên. Do đó, sẽ là sai lầm nếu chỉ quan tâm đến các chỉ số như GNI và GNP.

Cụ thể hơn, đánh giá các hoạt động thị trường mà không tính đến các chi phí xã hội và sinh thái liên quan sẽ dẫn đến hiểu lầm về hiệu quả kinh tế. Hơn nữa, muốn phát triển bền vững các nhà quản lý cần lưu tâm đến  việc các hoạt động kinh tế cuối cùng sẽ “đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không phải thỏa hiệp với năng lực của các thế hệ tương lại để đảm bảo nhu cầu của họ”. Do đó, các nhà kinh tế học xanh kêu gọi có sự nhìn nhận rộng hơn về các chỉ số như tăng trưởng và tiến bộ kinh tế khi tìm hiểu nền kinh tế quốc gia.

Hiện tại, chưa có sự đồng thuận trong cách điều chỉnh GDP cho môi trường. Các chỉ số đang được sử dụng là:

  • Tổng sản phẩm xanh quốc gia (Green Net National Product): đánh giá GNP có tính đến sự cạn kiệt  của tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường (tương tự như việc các công ty phải khấu hao giá trị các tài sản vô hình cũng như hữu hình khi sản xuất). Chỉ báo kết quả là sản phẩm ròng quốc dân (Net national product – NNP) thể hiện việc khấu hao giá trị của các tài sản hữu hình của quốc gia15.
  • Chỉ số tiến bộ thực tế (Genuine Progress Indicator): chỉ số này cũng sử dụng các kế toán số liệu như khi tính toán GDP nhưng được bổ sung bằng các chỉ số hướng tới chất lượng môi trường, sức khỏe dân số, an ninh sinh sống, tài sản, thời gian rỗi và thành tựu giáo dục. Chỉ số này cũng bổ sung giá trị của các công việc không được trả tiền như tình nguyện, nội trợ cũng như các công việc trả tiền và loại trừ đi các yếu tố như tội phạm, ô nhiễm, rạn nứt gia đình.
  • Tổng hạnh phúc quốc gia (Gross National Happiness): chỉ số này cho thấy sự phát triển thực tế của xã hội con người khi phát triển vật chất và tinh thần diễn ra song hành, bù trừ và bổ trợ cho nhau. Nó cũng đo lường sự thăng tiến của phát triển kinh tế xã hội bền vững và cân bằng, duy trì và phát triển các giá trị văn hóa, bảo tồn mội trường tự nhiên, và thiết lập một chính quyền tốt.

 

  • Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index): ý tưởng này bao hàm cách nhìn lợi ích rằng hầu hết mọi người đều mong muốn có một cuộc sống lâu dài và thỏa mãn. Vì vậy, quốc gia hoạt động tốt nhất là quốc cha cho phép công dân đạt được điều đó mà không xâm phạm đến cơ hội của thế hệ tương lại và cơ hội của cả các quốc gia khác.

3. CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ KHÁC

GNI, GDP và các biến thể của nó ước lượng thu nhập tuyệt đối và tương đối của một quốc gia. Đây được coi là những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá về hiệu quả và tiềm năng của quốc gia. Bên cạnh những chỉ số này, những chỉ số khác lạm phát, thất nghiệp, nợ, phân phối thu nhập, nghèo đói và cán cân thanh toán cũng được sử dụng để đánh giá sự hoạt động của nền kinh tế một quốc gia.

LẠM PHÁT

Nhìn chung, việc tăng giá liên tục so với mức tiêu chuẩn của sức mua được gọi là lạm phát. Thông thường, lạm phát được tính bằng cách so sánh mức tăng chi phí của cùng một giỏ hàng hóa ở hai thời điểm khác nhau. Theo quan điểm kinh tế học, lạm phát xảy ra khi tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung – nói các khác là quá nhiều người cố gắng mua quá ít hàng hóa, dẫn đến tăng giá nhanh hơn tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết khác, trong đó đáng chú ý có trường phái Kinh tế Áo, cho rằng lạm phát giá là hệ quả của việc ngân hàng trung ương tăng mức cung tiền quá cao. Tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng đến rất nhiều bộ phận của môi trường kinh tế như tỉ lệ lãi suất, tỷ giá hối đoái, chi phí sinh hoạt, niềm tin vào nền kinh tế, và sự ổn định của hệ thống chính trị.

Lạm phát và chi phí sinh hoạt: Lạm phát tác động mạnh đến chi phí sinh hoạt. Giá cả tăng làm cho người tiêu dùng khó mua hàng hơn, trừ khi thu nhập của họ cũng tăng ở mức bằng hoặc hơn lạm phát. Đôi khi điều này là không thể. Ví dụ, trong thời kì “siêu lạm phát” (ví dụ, ở Brazil những năm 1990 và Turkmenistan giữa thập kỉ 1990), người tiêu dùng phải tiêu tiền ngay lập tức hoặc tiền nhanh chóng trở thành vô giá trị.

Trong vòng vài năm nay, ở Zimbabwe giá cả tăng từ 1 đến 20% /ngày. Giữa năm 2007, tỉ  lệ  lạm  phát  đạt  mức  3714%.  Chủ  tịch  của  Combined  Harare Residents Association ở Zimbabwe nhận xét: “Tình hình ở đây siêu thực đến mức mọi người khó có thể hiểu được. Nếu bạn đang cần gì đó và có tiền, bạn phải mua ngay. Hãy tiêu tiền ngay khi vì ngày mai nó sẽ mất 5% giá trị. Những giới hạn thông thường không hiện diện nơi đây.”

Dĩ nhiên, đây là những trường hợp điển hình. Tuy nhiên, trong lịch sử đã từng có các kỳ lạm phát lặp đi lặp lại với mức lạm phát từ 10 đến 30%/năm, làm mất niềm tin vào đồng tiền nội địa và buộc mọi người phải tìm cách dự trữ tài sản tốt hơn.

Hậu quả của lạm phát kinh niên: lạm phát hoặc siêu lạm phát kinh niên gây nhiều khó khăn cho các công ty. Kể cả họ và khách hàng đều không thể có các kế hoạch đầu tư dài hạn, không có ích lợi trong việc tiết kiệm, các công cụ đầu tư bình thường như chính sách bảo hiểm, lương hưu, trái phiếu dài hạn đều trở thành đầu cơ. Lạm phát cũng tạo ra sức ép ghê gớm buộc chính phủ phải kiểm soát nó. Thông thường, chính phủ cố gắng giảm lạm phát bằng cách tăng tỉ lệ lãi suất, thiết lập kiểm soát giá và tiền lương, áp đặt các chính sách bảo hộ thương mại và kiểm soát tiền tệ.

Chỉ số giá và các vấn đề trong đo lường lạm phát: Cần lưu ý là mỗi quốc gia sẽ có một hệ thống chỉ số giá khác nhau để đánh giá mức lạm phát. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Chỉ số Giá Tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI) là  thước đo chính thức về lạm phát. Tại Liên minh châu Âu, đó là Chỉ số Giá Tiêu dùng Cân bằng  (Harmonized Index of Consumer Prices – HICP). CPI khác với HICP ở 2 mặt chính: đầu tiên, HICP điều tra cả dân số nông thôn và thứ hai, HICP loại trừ chi phí nhà ở do chủ sở hữu. Do đó, nhà kinh doanh cần thận trọng trong tiến trình xử lý các báo cáo số liệu kinh tế.

THẤT NGHIỆP

Thất nghiệp là số nhân công muốn làm việc những không tìm được việc. Tỉ lệ thất nghiệp là lượng nhân công thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm có trả lương chia cho tổng lực lượng lao động. Nhưng quốc gia không thể tạo được việc làm cho công dân sẽ tạo ra môi trường kinh doanh rủi ro. Thất nghiệp sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế, tạo áp lực xã hội cũng như bất ổn chính trị. Do đó, tỷ lệ thất nghiệp sẽ cho thấy đất nước đó có sử dụng nhân lực hiệu quả hay không.

Ngoài ra, một số nhà kinh tế còn đề ra chỉ số nghèo khổ (misery index), là tổng của tỉ lệ lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp. Tổng này càng cao thì mức độ tồi tệ của nền kinh tế càng lớn, người tiêu dùng và doanh nghiệp càng ngại tiêu dùng và đầu tư.

Dân số trong độ tuổi lao động: Hiện tại, tại các quốc gia giàu có trên thế giới dân số trong độ tuổi làm việc giảm từ khoảng 740 triệu người năm 2000 xuống còn 690 triệu năm 2005. Tuy nhiên, trong cùng thời gian  đó, dân số trong độ tuổi làm việc ở các nước nghèo tăng 3 tỷ lên 4 tỷ người. Riêng ở Trung Quốc, hàng năm dân số trên 16 tuổi sẽ tăng trung bình khoảng 5.5 triệu người trong 20 năm nữa. Ước tính đến năm 2020, tổng dân số ở độ tuổi lao động của Trung quốc lên đến khoảng 940 triệu người. Hiện tại, những lao động trẻ đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao nhất ở hầu hết các quốc gia, gấp 2 lần tỉ lệ thất nghiệp của lao động trưởng thành (từ 25 đến 65 tuổi). Ví dụ như ở Trung Quốc, cấu trúc tuổi của dân số tạo ra áp lực việc làm ghê gớm trong 2 thập kỉ nữa.

Luật lao động: tại các nền kinh tế mới nổi, các quy định bất hợp lý về lực lượng lao động cũng làm gia tăng mức thất nghiệp. Ví dụ, Luật lao động Ấn Độ rất ít được điều chỉnh kể từ khi AAssn dộn giàng độc lập năm  1947. Luật này hạn chế việc sa thải nhân công ngay cả khi công ty đang gặp khó khăn hoặc nền kinh tế bị suy giảm. Hậu quả là các công ty không dám thuê thêm nhân công do rủi ro không thể sa thải nếu cần. “Các công ty suy tính 2 lần, 10 lần, trước khi họ thuê người mới”, chủ tịch của Hero Group, một trong những nhà sản xuất xe mô tô giá rẻ lớn nhất thế giới, giải thích.

 Các vấn đề trong cách đo lường thất nghiệp: Trong trường hợp lạm phát, rất khó tính toán lượng nhân công thất nghiệp ở các nước khác nhau. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, tỉ lệ thất nghiệp chỉ cho biết bao nhiêu người không có việc làm được trả lương và đang tìm việc mà không tính tới lượng người không làm việc, làm việc không lương, không có nhu cầu tìm việc làm, hoặc làm việc bất hợp pháp.

Thêm nữa, tỉ lệ thất nghiệp cho thấy thực tế khác nhau ở các quốc gia khác nhau, bởi các chính sách xã hội và nền tảng cấu thành khác nhau. Một số nước như Pháp và Đức cung cấp mức trợ cấp thất nghiệp khá hào phóng trong khi ở các nước khác như Trung Quốc, Kenya hay Jordan, chính phủ không trợ cấp thất nghiệp hoặc trợ cấp rất ít. Vì vậy, nhà kinh doanh cần lưu ý khi đánh giá hậu quả của tỉ lệ thất nghiệp đến tiêu dùng và tăng trưởng.

Cuối cùng, tại rất nhiều quốc gia nghèo, mức thất nghiệp được công bố thường thấp hơn rất nhiều so với mức thất nghiệp thực sự. Nhiều nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, người thất nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn do nạn lạm phát. Nhiều người có việc làm trên danh nghĩa, nhưng chỉ được làm bán thời gian, dẫn đến giảm năng suất lao động, thu nhập thấp và tạo bất ổn cho xã hội.

NỢ

Nợ là tổng lượng cam kết tài chính của chính phủ, bao gồm lượng tiền nhà nước mượn từ dân chúng, từ các tổ chức nước ngoài, các chính phủ khác, hoặc từ các định chế quốc tế. Tổng nợ càng lớn thì nền kinh tế đất nước càng bất ổn. Trong hiện tại, nợ làm phát sinh chi phí trả lãi, làm ảnh hưởng đến việc đầu tư cho sản xuất. và trong tương lai, do dân chúng lo lắng về khả năng thanh toán nợ của chính phủ.

Hiện tại, nợ quốc gia của nhiều nước đang ngày một nhiều. Ví dụ, nợ quốc gia của Hoa Kỳ đã lên tới 1 nghìn tỉ USD năm 1980 đến 9.4 nghìn tỉ USD khoảng giữa năm 2008. Khoản nợ tính theo đầu người là 30.800 USD mỗi người. Con số này ở Canada là 740 tỉ USD và khoản nợ trên đầu người là 22.600 USD.

Bên cạnh giá trị tuyệt đối của khoản nợ, nhà kinh doanh còn cần lưu ý đến tương quan giữa tổng nợ quốc gia với GDP của quốc gia đó. Theo chỉ số này, năm 2007 tổng nợ quốc gia của Hoa Kỳ bằng 65% GDP, Pháp  cũng tương tự còn ở Đức nợ quốc gia chiếm khoảng 67% GDP. Hơn nữa, một số chuyên gia còn cảnh báo  khi so sánh tỷ trọng nợ giữa các năm không nên tính thêm tỷ lệ lạm phát vì nó sẽ khiến tỷ trọng nợ của năm sau có vẻ trầm trọng hơn. Khi chưa điều chỉnh theo lạm phát thì nợ quốc gia của Hoa Kỳ chỉ chiếm dưới 60% GDP danh nghĩa.

Nợ trong nước và nước ngoài: Nợ quốc gia gồm 2 phần: nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là việc chính phủ nợ dân chúng, được tính bằng đồng tiền nội địa. Nợ nước ngoài là việc chính phủ nợ các nhà cho vay nước ngoài, tính theo đồng tiền nước ngoài. Nợ trong nước bắt nguồn từ việc chính phủ chi  nhiều hơn thu do nhiều nguyên nhân như: hệ thống thuế không hoàn chỉnh khiến nhà nước không thu được thuế, khi chi phí cho an ninh và các chương trình xã hội vượt quá lượng thuế thu được, và khi các công ty nhà nước bị thâm hụt ngân sách. Do đó, mọi chính phủ đều cố gắng kiểm soát chi tiêu, cải thiện quản lý ngân quỹ và hệ thống thuế. Áp lực rà soát các chính sách của chính phủ, trong thời điểm nợ trong nước lớn dần, có thể tạo ra bất ổn kinh tế cho nhà đầu tư và doanh nghiệp.

Nợ nước ngoài xảy ra khi chính phủ vay tiền từ nước ngoài. Hiện tại, hầu hết nợ của các nước thu nhập thấp đềuxuất phát từ những năm 1970 và 1980, khi giá dầu tăng lên khiến các nước phải mượn một lượng tiền lớn để cung cấp cho các dự án trong nước (tin rằng giá cao và thu nhập xuất khẩu sẽ duy trì) hoặc chương trình trong nước (khi cần thiết phải bù đắp chi phí sốc giá dầu, tỉ lệ lãi suất cao, giá hàng hóa thấp).

Gần đây, nhiều quốc gia đã vay từ các nhà cho vay nước ngoài để tài trợ cho các hoạt động tự do hóa thị trường, chuyển đổi nền kinh tế. Rất nhiều quốc gia ấp ủ tham vọng này nhưng cuối cùng đều thất bại và phải trông chờ vào nợ nước ngoài. Chính phủ các nước vay nợ nhiều như Liberia và Zambia thường phải làm chậm  tốc độ phát triển kinh tế lại hoặc là vay thêm nữa. Các nhà đầu tư nước ngoài giám sát khoản nợ rồi từ đó gây áp lực buộc các chính phủ xem xét lại các chính sách kinh tế

PHÂN PHỐI THU NHẬP

Ngay cả khi được tính trên quy mô dân số và PPP thì GNI hay GDP vẫn chưa phản ánh chính xác thu nhập của công dân một nước vì các báo cáo chỉ cho biết mức GNI và GDP bình quân. Vì không phải ai cũng có mức thu nhập trung bình nên cả 2 chỉ số này đều không thể cho chúng ta biết thu nhập được phân phối cho các khu vực dân cư như thế nào. Ví dụ GNI của Brazil là 1.4 nghìn tỉ USD, một thứ hạng tương đối cao trên thế giới, và GNI bình quân đầu người của quốc gia này đạt mức gần 3.500 USD – mức khá cao trong khu vực. Ở các nước láng giềng như Guyana hay Bolivia, mức GNI bình quân đầu người chỉ đạt 1.000 USD. Tuy nhiên  tình hình kinh tế của Brazil rất đáng nghi ngại nếu chúng ta xét đến một thực tế là một phần năm những người Brazil giàu nhất (khoảng 35 triệu người) chiếm tới 65% tổng thu nhập trong khi một phần năm dân số nghèo nhất chỉ nhận được có 2.2%17. Ở các quốc gia như Ấn Độ, tình trạng này còn tồi tệ hơn với hơn 80% dân số (hơn 800 triệu người) chỉ sống qua ngày với mức thu nhập ít hơn 2 USD và hơn 40% chỉ với ít hơn 1 USD một ngày.

Chỉ số Gini.

Các nhà kinh tế học đánh giá về phân phối thu nhập ở một quốc gia bằng cách kiểm tra chỉ số Gini của quốc gia đó. Chỉ số này cho biết mức độ bất bình đẳng trong việc phân phối thu nhập gia đình ở một quốc gia. Phân phối thu nhập của một nước càng công bằng bao nhiêu thì chỉ số Gini của nó càng thấp bấy nhiêu, (ví dụ như chỉ số này ở Phần Lan là 26.9). Ngược lại, phân phối thu nhập càng kém công bằng bao nhiêu thì chỉ số Gini của nó càng cao bấy nhiêu, ví dụ như Brazil với chỉ số 56.7.

 Phân phối thu nhập tại các quốc gia giàu

Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập không chỉ là một vấn đề của các nước nghèo. Hoa Kỳ là nước có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất trong số các quốc gia phát triển. Ví dụ 1% những người giàu nhất nơi đây có tổng thu nhập còn cao hơn cả của 40% những người nghèo nhất. Hơn thế nữa, trong 20 năm vừa qua, phần thu nhập rơi vào túi của 1% những người giàu có nhất đã tăng lên, nhưng lại giảm đi đối với 40% những người nghèo khó nhất. Sự bất bình đẳng này phổ biến trên toàn thế giới. Năm 1960, 20% những người giàu nhất thế giới có thu nhập cao gấp 30 lần thu nhập của 20% những người nghèo nhất. Con số này năm 1972 đã tăng lên 32 lần, năm 1980 là 45 lần, năm 1990 là 60 lần và tới năm 2000 là 75 lần. Thêm vào đó, 1% người giàu nhất thế giới có thu nhập bằng tổng thu nhập của 57% những người nghèo nhất. Nói một cách khác, 50 triệu người giàu nhất thu nhập tương đương 2.7 tỉ người nghèo nhất. Sự mất cân đối đang ngày càng rộng ra có thể đe dọa sự phát triển kinh tế nếu như nó thổi bùng lên dư luận xã hội.

Phân phối thu nhập ở nông thôn và thành thị

Tương tự như trên, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập với khoảng cách giữa nông thôn và thành thị có một mối liên hệ mật thiết. Chẳng hạn, những trung tâm đô thị mới phát triển ở Trung Quốc như Bắc  Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông, Thâm Quyến và Quảng Châu, có thu nhập bình quân đầu người vượt mức 1200 USD trong năm 2006, bằng khoảng 3.22 lần thu nhập ở nông thôn. Các nhà kinh tế dự đoán tỉ lệ này sẽ là 4:1 vào năm 2020.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng dự báo thu nhập của khu vực thành thị sẽ cao gấp 7 lần khu vực nông thôn vào năm 202018. Vì thế, mặc dù ta có thể nhìn thấy các xe ô tô hạng sang như Lexus, Porsche, và Mercedes – Benz được mua bán ngày càng nhiều ở Bắc Kinh, ở nhiều vùng nông thôn của Trung Quốc, người dân vẫn dùng xe đạp hay thậm chí là gia súc làm phương tiện đi lại. Khoảng cách về thu nhập giữa những thành phố đang phát triển và vùng nông thôn rộng lớn nhưng bần hàn nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội.

 Tình trạng tương tự cũng đang xuất hiện ở khắp mọi nơi. Năm 2008, số năm đến trường trung bình của dân cư thành thị tại Việt Nam là 8.1 nhưng chỉ là 5.4 đối với người dân nông thôn. Và, 73% các hộ gia đình trong thành phố của Ấn Độ có thể tiếp cận với hệ thống giữ gìn vệ sinh công cộng đầy đủ, nhưng ở nông thôn, con số này chỉ là 14%.

Sự bất bình đẳng trong thu nhập đang trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới. Năm 2002,  Jeffery  Sachs,    nhà   kinh   tế   học    thuộc  Viện   Trái   Đất   đã    phát   biểu: “Thế giới hiện đang mất cân bằng hơn bao giờ hết. Có một nguyên nhân chính cho vấn đề này, đó là 200 năm trước con người ai cũng nghèo khó. Một bộ phận tương đối nhỏ đạt được cái mà các nhà kinh tế học gọi là tăng trưởng kinh tế hiện đại. Những quốc gia này chỉ đại diện cho khoảng một phần sáu nhân loại, còn năm phần sáu kia là cái chúng ta gọi là thế giới đang phát triển. Đó là phần đa thế giới. Hố ngăn cách có thể là 100:1, có thể là khoảng cách giữa 3000 USD/ người và 300 USD/ người. Và thực sự rất đáng kinh ngạc khi cùng nhau sống trên một hành tinh mà lại có sự giàu có vật chất khác xa nhau đến thế.”

Các nhà kinh tế đã thống nhất rằng sự bình đẳng trong phân phối thu nhập là một chỉ số để đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia. Hơn thế nữa, các nhà quản lý cũng nhận ra rằng mất cân đối thu nhập không chỉ có hại cho công bằng xã hội mà còn tác động xấu đến cho hiệu quả kinh tế. Nếu để nó tiếp tục tồn tại, nó có thể làm tăng tỷ lệ tội phạm, tham nhũng, và các nguy cơ khác cản trở sự tăng trưởng và ăn mòn ổn định của một nền kinh tế.

ĐÓI NGHÈO

Bất bình đăng trong thu nhập tất yếu dẫn đến tình trạng đói nghèo trong quốc gia. Bất chấp những cố gắng của các nhóm và tổ chức quốc tế, đói nghèo vẫn đang chiếm ưu thế ở nhiều nơi trên thế giới.

Đói nghèo là gì?

Đói nghèo có thể được thể hiện trên nhiều khía cạnh. Một cách tổng quát, đói nghèo là tình trạng trong đó một người hay một cộng đồng bị tước đoạt hay thiếu thốn những phương tiện cần thiết để đảm bảo mức sống tối thiểu. Những phương tiện này có thể là những nguồn lực vật chất duy trì sự sống như thức ăn, nước uống an toàn, và nơi cư trú. Cũng có thể đó là những nguồn lực xã hội như tiếp cận thông tin, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và địa vị xã hội hoặc cơ hội tạo dựng và phát triển những mối quan hệ có ý nghĩa với những cá nhân khác trong xã hội.

Quan điểm của chúng tôi ở đây là: một người được công nhận là nghèo đói khi thu nhập của người này ở dưới ngưỡng được coi là tối thiểu để thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của cuộc sống.

 Quan điểm của Ngân hàng Thế giới về đói nghèo

Ngân hàng Thế giới tổng kết rằng có khoảng 78% dân số thể giới phải chịu cảnh nghèo (với GDP theo PPP hàng năm thấp hơn $3.470), 11% có thu nhập trung bình và 11% giàu có (GDP theo PPP hàng năm cao hơn $8.000). Ngân hàng Thế giới định nghĩa cực kì nghèo với mức sống dưới $1 (PPP) một ngày và nghèo vừa phải với mức dưới $2 (PPP) mỗi ngày. Tiêu chuẩn này cho thấy vào năm 2004 có 986 triệu người cực kì nghèo và độ khoảng 2.6 triệu người khác hoặc gần như một nửa thế giới đang phát triển nghèo vừa phải.

Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới đã đánh giá không đúng mức độ phổ biến của đói nghèo. Tiêu chuẩn $1 một ngày (PPP) không thể áp dụng đồng đều cho tất cả các vùng. Uỷ ban Kinh tế các nước Hoa Kỳ Latinh và Caribbe (ECLAC) đặt ngưỡng cực kì nghèo ở mức $2/ ngày, mức này ở Hoa Kỳ là khoảng $12/ngày. Vì vậy, khi kết hợp tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới với các định nghĩa quốc gia về đói nghèo cho thấy năm 2008, hơn 3 tỉ trong tổng số 6.45 tỉ người trên hành tinh Trái Đất sống trong cảnh cực kì nghèo cho tới nghèo vừa phải.

Hiện nay tình trạng nghèo đói có nguy cơ lan rộng khắp toàn cầu. Nhờ những nỗ lực quốc tế, con số ước tính về những người cực kì nghèo đã giảm xuống khoảng 200 triệu người kể từ năm 1990. Tuy nhiên, sự suy giảm này chỉ tập trung ở một số nước. Nếu không tính Trung Quốc và Ấn Độ, số người nghèo trên thế giới thực sự đang gia tăng. Chính xác hơn, vào cuối thập niên 90, hơn 80 quốc gia có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn so với vào cuối thập niên 80.

Đói nghèo với môi trường kinh tế.

Tình trạng đói nghèo sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường kinh tế. Trên khắp thế giới, con người phải đấu tranh để có thức ăn, chỗ ở, áo mặc, nước sạch và dịch vụ y tế, không nói đến an toàn, an ninh và giáo dục.  Những kết quả đáng buồn này dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh tâm thần, tử vong, dịch bệnh, nạn đói, và chiến tranh. Ví dụ, 100% người dân Canada có nước sạch để dùng trong khi chỉ có 13% người Afganistan  có nước sạch mà thôi; hoặc như, tính theo bình quân đầu người, lượng protein cung cấp từ chế độ ăn ở Hoa Kỳ là 121 gram nhưng ở Mozambique chỉ là 32 gram. Tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản là 81 trong khi ở Botswana chỉ là 31 tuổi19. Tình trạng này sẽ gây quan ngại cho các công ty nước ngoài khi tìm địa điểm để kinh doanh. Tại các quốc gia có mức đói nghèo cao, cơ chế thị trường có thể không tồn tại, cơ sở hạ tầng của quốc gia rất yếu kém, tội phạm lan tràn và các chính phủ thường bất lực trong việc chỉnh đốn xã hội hay đề ra các chính sách kinh tế đúng đắn. Sự phát triển của hoạt động kinh doanh cũng như tiến bộ kinh tế rút cuộc đều phụ thuộc vào xoá đói giảm nghèo.

 Tiềm năng của người nghèo

Bất chấp khoảng cách đáng nản này, các nhà kinh doanh cần luôn ghi nhớ tiềm năng to lớn của những khách hàng là người nghèo. Ví dụ, năm 2002, Ấn Độ chỉ có suýt soát 15 triệu thuê bao điện thoại di động. Đến năm 2006, đất nước này đã có 136 triệu thuê bao. Chính phủ Ấn Độ dự tính sẽ có khoảng 500 triệu thuê bao điện thoại vào năm 2010. Nhờ thị trường điện thoại di động phát triển nên với mức dịch vụ di động rẻ nhất thế giới, các công ty Ấn độ vẫn thu được những khoản lợi nhuận hấp dẫn.

Sự phát triển của máy vi tính và ô tô cũng tương tự như vậy. Ví dụ: Dự án “Laptop giá 100 USD cho trẻ em” hay việc đưa ra thị trường xe ô tô có giá từ US $2000 đến US $3000 đã cho thấy tầm quan trọng của thị trường những nước có thu nhập thấp. Một nhà kinh doanh đã từng phát biểu: “Một tỉ khách hàng trên thế giới đang trông chờ mua mắt kính giá $2, đèn năng lượng mặt trời giá $10 và nhà ở giá $100”.

CHI PHÍ LAO ĐỘNG

Các công ty quốc tế luôn xem xét kĩ lưỡng để lựa chọn nơi nào là tốt nhất để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Thêm vào đó, thay đổi môi trường kinh tế có nghĩa là các công ty nhìn vào cơ cấu chi phí hiện thời cũng như dự đoán cơ cấu chi phí trong vòng 5 hay 10 năm tiếp theo. Các nhà sản xuất giày dép ở khu vực Bắc Hoa Kỳ như Nike trước kia chỉ sản xuất giày ở Hoa Kỳ, nhưng sau 30 năm phát triển, họ đã mở rộng sản xuất sang Đài Loan, Phillippines, Thái Lan,  Hàn Quốc, Việt Nam và Trung Quốc nhằm giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất. Mặc dù toàn cầu hóa đã giảm bớt khoảng cách giữa các quốc gia, chi phí sản xuất giữa các quốc gia vẫn có sự khác biệt đáng kể.

Chi phí Lao động và Tổng chi phí.

Đối với nhiều hàng hóa và dịch vụ, chi phí lao động là yếu tố chủ chốt trong tổng chi phí sản xuất. Do đó, các công ty lùng sục mọi nơi trên thế giới để tìm phương án tốt nhất cho vấn đề về sự khác biệt giữa các nước có chi phí thấp với các nước có chi phí cao. Ví dụ lương trả cho lao động làm việc trong nhà máy ở Hoa Kỳ là khoảng 15 đến 30 USD một giờ; ở Mexico, giá lao động chỉ bằng 11% ở Hoa Kỳ và Trung Quốc là 3%20. Đối với lao động trong ngành dịch vụ, ví dụ như nhân viên trực điện thoại, mức chi phí chênh lệch mới  thật sự ấn tượng. Nếu di chuyển một dịch vụ sang Ấn Độ, doanh nghiệp có thể tiết kiệm tới 60% tổng chi phí. Hơn nữa, các nhà kinh tế dự đoán mức tiền công trung bình ở Hoa Kỳ sẽ tăng lên trên mức $25 một chút, trong khi ở

Trung Quốc chỉ vào khoảng $1.3 và ở Indonesia là $0.70. 20  OECD,

Như trường hợp của Wonder Auto, một nhà sản xuất linh kiện ô tô tại Trung Quốc. Theo tính toán, nhà máy này phải mất 4 tỉ USD để lắp đặt dây chuyền sản xuất và sử dụng 20 công nhân ở Jinzhou, một thành phố có 800.000 dân ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Tiền công của cả 20 công nhân này cộng lại là $40.000 một năm – con số xấp xỉ mức lương cơ bản hàng năm của một công nhân sản xuất linh kiện ô tô trong nghiệp đoàn hoặc 2 công nhân không tham gia vào nghiệp đoàn ở Mỹ! Hơn nữa, được làm việc ở nhà máy của Wonder Auto và mức lương 170 USD/tháng được coi là tấm vé bước vào tầng lớp trung lưu. Ở Jinzhou, giá thuê một căn hộ cơ bản không có tủ lạnh là khoảng 40 USD/tháng và chi phí cho một bữa ăn ở nhà hàng của khách sạn sang trọng nhất thành phố cũng chỉ tốn không đến 3 USD. Vì vậy, được làm việc ở Wonder Auto trở thành ước mơ với nhiều người và tốc độ thay thế công nhân gần như bằng 0. Tất nhiên các công ty ở các quốc gia khác cũng nhìn ra vẫn đề này và cũng sẽ chọn mở nhà máy ở Trung Quốc.

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Các công ty đang thay đổi dần cách hiểu của mình về chi phí lao động bằng cách xem xét đến năng suất – đặc biệt là lượng sản phẩm làm ra trên một đơn vị đầu vào. Năng suất lao động thường được hiểu là số lượng sản phẩm/dịch vu một người sản xuất ra trong một giờ.Trong nửa đầu thập niên 90, việc tăng năng suất lao động  tại các thị trường mới nổi đã làm năng suât la động toàn cầu tăng khá nhanh. Sự tăng trưởng bền vững của Trung Quốc là rất ấn tượng, tuy nhiên mức tăng năng suất của các quốc gia châu Á hay Đông Âu cũng rất đáng kể, đồng thời có những dấu hiệu tăng năng suất ở châu Phi và Nam Hoa Kỳ.

Sự tăng trưởng này đã đảo lộn sự khác biệt về năng suất giữa công nhân ở các nước giàu với công nhân ở các nước đang phát triển. Tổ chức Conference Board chốt mức tăng năng suất của Trung Quốc từ năm 2000 đến 2007 vào khoảng 10.4%. Ở Hoa Kỳ, năng suất tăng trung bình 2.5% mỗi năm trong nửa cuối những năm 90 và hơn 3% trong giai đoạn 2002-2004. Đến năm 2006, con số này là 1.4%, thấp nhất trong suốt một  thập niên cho dù đang trong giai đoạn tăng trưởng của chu trình kinh doanh. Tương tự như vậy, năng suất của Liên minh châu Âu cũng tăng rất khiêm tốn, chỉ ở mức 1.5% trong năm 200621.

Thời gian gần đây, việc phổ biến các phương pháp quản lí và công nghệ mới tại các thị trường có chi phí thấp góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động. Sự kết hợp của quy trình công nghệ, tự do hóa thương mại toàn cầu, dòng vốn trao đổi giữa các quốc gia ngày một tăng, chính sách vĩ mô và hệ thống tài chính linh hoạt đã làm năng suất lao động tăng nhanh hơn nữa. Dự kiến, tiến trình toàn cầu hóa sẽ tiếp tục có ảnh hưởng tích cực đến năng suât lao động trong thời gian tới. “US Labour Productivity Growth in 2006 was the lowest in more than a decade”. Conference Board, January 23, 2007. “Making less with more”, The Economist, April 12/2007.

CÁN CÂN THANH TOÁN

Cán cân thanh toán (Balance of Payment – BOP) của một nước được coi là báo cáo giao dịch quốc tế của nước đó, là báo cáo về cán cân thương mại và giao dịch tài chính mà các cá nhân, các doanh nghiệp và  cơ quan chính phủ ở một nước thực hiện với các nước khác trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).

Cán cân thương mại và cán cân vốn

Cán cân thanh toán có 2 hạng mục tài khoản chính

–     Cán cân thương mại, ghi chép mọi hoạt động thương mại hàng hoá

–     Cán cân vốn ghi lại tất cả những khoản cho người nước ngoài và dân chúng vay.

Trong vài năm đầu thế kỉ 21, người ta thường chú ý đến cán cân thương mại. Hiểu một cách máy móc, lượng xuất khẩu đem lại doanh thu dương trong khi nhập khẩu sinh ra doanh thu âm đối với quốc nội. Doanh thu ròng dương chỉ đơn giản là kết quả của việc xuất nhiều hơn nhập, dẫn đến thặng dư cán cân thương mại; cũng như thế, nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại. Bảng 2.3 liệt kê 10 nước có thặng dư cán cân thương mại nhiều nhất và 10 nước có thâm hụt cán cân thương mại cao nhất.

Khái niệm cán cân có nghĩa là tất cả các giao dịch trong cán cân thanh toán BOP đều cần có sự bù đắp. Ví dụ, một nước có thể thặng dư trong thương mại hàng hoá (cho thấy nước đó xuất nhiều hơn nhập) nhưng có thể thâm hụt trong lĩnh vực khác ví dụ như thu nhập từ đầu tư. Nói cách khác, bởi vì cán cân thương mại và cán cân vốn cộng lại thành tổng tài khoản cần cân bằng nên thâm hụt trong cán cân thương mại thường kéo theo thặng dư tương đương trong cán cân vốn và ngược lại. Thặng dư hay thâm hụt cán cân thương mại đều không thể được giải thích và đánh giá mà không có giải thích và ước lượng về lượng thâm hụt hay thặng dư tương ứng trong cán cân vốn.

Ảnh hưởng của cán cân thanh toán đến sự ôn định kinh tế

Các nhà quản lý sử dụng cán cân thanh toán để đánh giá sự ổn định của một nền kinh tế. Bằng cách so sánh các giao dịch của một quốc gia với các nước khác, cán cân thanh toán ước tính sự ổn định về tài chính của nước đó trên thị trường thế giới. Chẳng hạn, thâm hụt trong thương mại hàng hoá nghĩa là nguồn cung tiền của nước đó đang tăng trên thị trường thế giới, người tiêu dùng của nước đó mua nhiều hàng nhập khẩu khiến cho cán cân thâm hụt. Nếu chính phủ không xem xét lại các chính sách kinh tế để điều chỉnh thị trường, đồng tiền của nước đó sẽ sớm bị mất giá.

 Ảnh hưởng của cán cân thanh toán đến chiến lược công ty

Nghiên cứu các xu hướng của cán cân thanh toán sẽ giúp các nhà quản lý có thêm thông tin khi quyết định có nên kinh doanh ở một nước nào đó hay không. Sự thay đổi của cán cân thanh toán sẽ tác động đến chiến lược của một công ty và các hoạt động kinh tế và chính sách của chính phủ. Ví dụ, một số người cho rằng giải pháp cho thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ là phát triển mạnh hơn ở nước ngoài, giảm giá trị của đồng USD, giảm chi tiêu tiêu dùng và tăng tỷ lệ tiết kiệm. Bất cứ nhân tố nào trên đây cũng sẽ làm thay đổi những thành tố quan trọng của môi trường kinh tế Hoa Kỳ, đồng thời gây ra những biến đổi trong chính sách kinh tế ở khắp các quốc gia trên thế giới