Các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ

Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp thì CNHT của Thành phố cũng đã hình thành và phát triển nhằm hỗ trợ cho ngành công nghiệp Hà Nội. Trong giai đoạn những năm 2011 khi Chính phủ bắt đầu chú ý đến phát triển CNHT một số chính sách được ban hành để thúc đẩy phát triển CNHT.

Trước năm 2010, thuật ngữ CNHT ở Việt Nam được sử dụng chủ yếu trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ thị số 47/2004/CT – TTg ngày 22/12/2004 về các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có đề ra nhiệm vụ trong năm 2005: “Tập trung phát triển các CNHT để tăng cường khả năng cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước cho sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu và thúc đẩy mối quan hệ bổ trợ liên ngành giữa các ngành công nghiệp…”.

Năm 2011, Thủ tưởng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ- TTg về chính sách phát triển một số ngành CNHT. Đây được coi là lời tuyên bố chính thức đầu tiên của Chính phủ Việt Nam ủng hộ dành cho CNHT, tạo khung pháp lý cơ bản cho sự hình thành và phát triển của lĩnh vực này. Quyết định này quy định các chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển CNHT đối với các ngành cơ khí chế tạo, điện tử- tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt – may, da – giày và CNHT cho phát triển công nghiệp công nghệ cao.

Bên cạnh đó, Quyết định số 842/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Kế hoạch phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020” quy định mục tiêu, nội dung của kế hoạch và các giải pháp phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao và các chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao phù hợp với Danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao khuyến khích phát triển cũng tạo điều kiện cho phát triển CNHT cho các ngành công nghệ cao.

Sự ra đời của các chính sách phát triển CNHT đã tạo điều kiện pháp lý và cơ sở cho các ngành CNHT ở Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển thì các chính sách, quy định cũ đã không còn phù hợp với các điều kiện phát triển hiện nay. Do vậy, hiện nay các quy định về chính sách hỗ trợ phát triển CNHT, quy hoạch phát triển CNHT, chương trình hỗ trợ, trợ giúp các DN tham gia vào CNHT đã được Chính phủ và các Bộ ban ngành ban hành hàng loạt các chính sách để tạo điều kiện cho CNHT phát triển. Các chính sách này đã tạo động lực cho các DN tham gia vào CNHT, đặc biệt là Nghị định số 111/2015/NĐ – CP về phát triển CNHT và ưu tiên phát triển 06 nhóm ngành là dệt may; da – giày; điện tử; sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo và các sản phẩm CNHT cho công nghiệp công nghệ cao của Việt Nam. Tổng hợp các văn bản chính sách của Nhà nước về phát triển CNHT được thể hiện ở Bảng 3.8.

Các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, nhân lực quy định trong nghị định này chưa thực sự mới, đã quy định ở trong các văn bản pháp quy khác. Hệ quả là Việt Nam nói chung vẫn còn nhập 80% hàng hóa nguyên, vật liệu thô về để phục vụ sản xuất. Theo ước tính của Jetro, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam ước khoảng 32,1% đối với các sản phẩm chế biến cho các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam. Trong các sản phẩm công nghiệp, chỉ có lĩnh vực mô tô xe máy thì tỷ lệ nội địa hóa gần như toàn bộ, còn các lĩnh vực khác như điện tử, ô tô, sản phẩm công nghệ cao thì tỷ lệ nội địa hóa đều dưới 20%. Hiện nay, chính sách cho ngành CNHT của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng là rất nhiều, nhưng ít có giá trị thực tiễn để hỗ trợ phát triển CNHT.

Cùng với các chính sách hỗ trợ phát triển CNHT của Nhà nước, UBND thành phố Hà Nội cũng có nhiều Chương trình chính sách để cụ thể rõ các quy định của Nhà nước cho phù hợp với điều kiện của Thành phố. Năm 2011, Hà Nội đã có Chương trình 77 ban hành vào ngày 6/6/2011 là cụ thể hóa đường lối phát triển công nghiệp tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XV. Chương trình đã đánh giá thực trạng và đề ra mục tiêu, lộ trình và giải pháp phát triển CNHT trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015. Hà Nội là một trong rất ít tỉnh thành trong cả nước đã ban hành chính sách đặc thù cho CNHT, đó là Quyết định 143 ngày 7/1/2014 của UBND thành phố Hà Nội.

Thực hiện Chương trình 77, Thành phố đã triển khai nhiều nội dung tuyên truyền, hỗ trợ lãi suất vốn, tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị tập huấn, cung cấp thông tin, giao thương quốc tế, tham gia hội trợ triển lãm chuyên ngành về CNHT, xây dựng Danh mục cơ sở dữ liệu các DN CNHT Hà Nội. Phối hợp Bộ Công thương triển khai chương trình CNHT Việt Nam hướng tới thị trường châu Âu. Phối hợp với tổ chức JICA Nhật Bản tổ chức ứng dụng mô hình quản lý Nhật Bản cho các DN CNHT Hà Nội.

Sở Công Thương cùng các ngành đã nỗ lực chủ động và phối hợp để triển khai Chương trình nhằm trợ giúp cho DN. Thông qua Chương trình, các DN CNHT Hà Nội đã bước đầu có định hướng và nỗ lực trong phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng, thay đổi cách thức quản lý, tổ chức sản xuất theo các mô hình quản trị tiên tiến của các nước phát triển. Một số DN đã tìm kiếm thêm khách hàng mới, chuyên môn hóa sâu hơn, mở rộng hợp tác liên kết chặt chẽ hơn. Một số DN trong nước được vào chuỗi sản phẩm đa quốc gia, trở thành vệ tinh cung cấp sản phẩm cho các DN FDI tại Việt Nam.

Có nhiều chương trình hỗ trợ phát triển CNHT được thực hiện trong giai đoạn từ 2011 đến nay, Thành phố đã hỗ trợ hơn 48 tỷ đồng cho 31 DN CNHT thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển. Kinh phí ngân sách hỗ trợ tuy không nhiều nhưng đã góp phần giảm bớt áp lực chi phí lãi vay và khuyến khích DN đầu tư, đối mới máy móc thiết bị công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Thành phố.

Cũng trong giai đoạn này Hà Nội đã thực hiện các chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại trong lĩnh vực CNHT như tổ chức cho các DN công nghiệp Hà Nội tham quan và giao thương với các DN công nghiệp FDI. Thành phố đã phối hợp với JETRO Nhật Bản và Công ty Reed Tradex Thái Lan tổ chức triển lãm CNHT quốc tế ICS tại Hà Nội thu hút 123 DN với 163 gian hàng tham gia; tổ chức cho 45 DN tham gia triển lãm quốc tế về máy móc thiết bị và CNHT Manufactoring Expo tại Thái Lan; tổ chức cho các DN CNHT Hà Nội tham gia hội chợ triển lãm Metalex Việt Nam hàng năm về máy công cụ và gia công kim loại ở thành phố Hồ Chí Minh (mỗi kỳ triển lãm có từ 8 – 15 DN CNHT của Hà Nội tham gia).

Thành phố cũng hợp tác với Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) triển khai dự án “CNHT Việt Nam hướng tới thị trường châu Âu” tại khu vực Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Phối hợp tổ chức CBI Hà Lan tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các DN CNHT. Thành phố Hà Nội tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ và hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật dự án khu CNHT Hà Nội, thực hiên cơ chế ưu đãi đối với dự án về giao đất, cho thuê đất trong thời hạn không quá 70 năm, miễn tiền thuê đất đến 20 năm kể từ ngày hoàn thành xây dựng đưa dự án vào hoạt động, miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định.

Các nhà đầu tư hoạt động trong KCN sẽ nhận được các ưu đãi đặc biệt và sự hỗ trợ từ mọi phía trong suốt quá trình hoạt động như: thu xếp nguồn tài chính, tuyển dụng và đào tạo lao động, hợp tác trao đổi công nghệ, định hướng và liên kết sản phẩm đầu ra cho DN. Hà Nội là một trong những địa phương đã đi đầu trong việc xây dựng khu CNHT. KCN Hanssip là KCN chuyên sâu tạo mặt bằng đồng bộ hiện đại để các DN tham gia sản xuất các sản phẩm thuộc ngành CNHT thuộc các lĩnh vực cơ khí chế tạo; dệt may; da – giày, điện tử; tin học; sản xuất linh kiện và lắp ráp ô tô, xe máy; CNHT phục vụ công nghệ cao, và một số ngành công nghiệp khác. Liên kết chuỗi của các DN còn yếu, việc hình thành khu CNHT của Hà Nội giúp cho các DN tăng cường liên kết thông qua việc tham gia vào các chuỗi giá trị, vào các mạng sản xuất, hình thành cụm công, nông nghiệp.

Tuy nhiên các chính sách, chương trình hỗ trợ phát triển CNHT của Hà Nội có nhiều nhưng vẫn còn một số hạn chế: (i) các hoạt động được thực hiện khá bị động, hoặc đang bị lồng ghép với các lĩnh vực khác, chưa có chiến lược tổng thể, định hướng rõ ràng về lĩnh vực, ngành nghề CNHT trọng điểm ưu tiên; (ii) Thành phố Hà Nội chưa thực hiện được nhiều công tác phổ biến thông tin đến DN; (iii) chưa thực hiện các hoạt động hỗ trợ về nâng cao năng lực quản lý DN; (iv) hỗ trợ đổi mới công nghệ ít, sản phẩm hỗ trợ đổi mới chưa tham gia cung ứng cho các chuỗi sản xuất của các nhà lắp ráp lớn tại Việt Nam hay xuất khẩu; (v) thiếu các hoạt động xúc tiến, gắn kết DN CNHT với khách hàng, nhất là khách hàng FDI, các TĐĐQG đang đầu tư, sản xuất tại Việt Nam.