Các chính sách và biện pháp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan

Phát triển cơ sở hạ tầng cho chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT

Để tập trung phát triển cơ sở hạ tầng ngành CNTT tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Đài Loan đã nỗ lực hết sức mình trong việc đầu tư R&D. Tính đến thời điểm năm 2011, Đài Loan có khoảng 19 viện nghiên cứu công nghệ do nhà nước thành lập, trong đó có 8 viện nghiên cứu có chức năng thiết kế chính sách công nghiệp, công nghệ, và 11 viện nghiên cứu có chức năng thực hiện công nghiệp, công nghệ [57]. Trong số các viện nghiên cứu đó, có các viện chuyên về chức năng nghiên cứu công nghệ thong tin như Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI), Viện nghiên cứu CNTT (III), Công viên khoa học Hsinchu.

Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI): Do Bộ quan hệ kinh tế thành lập vào năm 1974, với chức năng tập trung R&D trong các lĩnh vực công nghệ phần cứng như: máy tính, vi mạch, thiết bị ngoại vi, bán dẫn, thiết bị viễn thông. Trong ITRI có Viện công nghiệp điển tử – ERSO- được thành lập liên quan đến việc thu hút đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài trong các dự án sản xuất vi mạch thế hệ đầu ở Đài Loan.

Trong thời gian mới thành lập, ITRI đóng vai trò là vườn ươm công nghệ và chế tạo. Sau một thời gian hoạt động ban đầu, ITRI đã tập trung vào phát triển các công nghệ công nghiệp chiến lược và chuyển giao các công nghệ này sang sản xuất thương mại . Năm 1978, nhà máy vi mạch đầu tiên được thành lập trong khuôn khổ ITRI. Sau đó, vào năm 1979, ITRI phát triển thành công con chip vi mạch thương mại cho đồng hồ và bắt đầu đặt hàng cho các nhà công nghiệp trong nước sản xuất, thúc đẩy tiến trình sản xuất đồng hồ điện tử trong nước.

ITRI đã đóng vai trò tích cực trong việc kết nối nghiên cứu với sản xuất, giữa công nghệ và hàng hóa, tập trung chủ yếu vào vấn đề triển khai (D) hơn vấn đề nghiên cứu (R) để tránh những sai lầm chung của nhiều nước khi nghiên cứu không được ứng dụng trong thực tiễn. Cho đến nay, ITRI là một tổ chức nghiên cứu có chi tiêu R&D lớn nhất của Đài Loan thông qua 3 hình thức cấp giấy phép, spin – off và liên doanh với nước ngoài. Công ty công nghệ spin-off được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà phát minh, và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu.

Công ty này phát triển và sản xuất sản phẩm từ công nghệ được phát triển bởi nhà nghiên cứu, và bán sản phẩm ra thị trường thông qua các kênh phân phối thích hợp. Hoặc ở quy mô thấp hơn, công ty spin-off có thể là một kênh trung gian để tiếp tục phát triển công nghệ nhằm chuyển giao tới các doanh nghiệp sản xuất lớn hơn. Tính đến năm 2011, ITRI có khoảng 5800 nhân viên, trong đó có 1200 tiến sĩ, 80% nhiệm vụ của ITRI là R&D. ITRI có mối quan hệ hợp tác chặc chẽ với Công viên khoa học Hsinchu và các trường đại học nghiên cứu, đồng thời có các chương trình phối hợp đào tạo ở nước ngoài như các nước Việt Nam, Philippines, Ấn Độ, Ba Lan….

Năm 1979, Viện nghiên cứu CNTT (III) được thành lập, với nhiệm vụ đầu tư R&D cho công nghệ phần mềm, tìm kiếm thông tin thị trường, khai thác các CNTT. Được sự hỗ trợ của chính phủ, các viện hàn lâm, các tổ chức tư nhân, nhiệm vụ chính của III là phát triển phần mềm, cung cấp các chỉ dẫn và tư vấn chính sách cho chính phủ và các tổ chức tư nhân. III còn là cơ sở đào tạo ở Đài Loan trong lĩnh vực CNTT. Công viên khoa học Hsinchu (HSP) (còn gọi là công viên khoa học Tân Trúc) được thành lập năm 1980, được đánh giá là mô hình thành công của Đài Loan trong phát triển CNTT. Tính đến cuối năm 2010, HSP có 449 công ty làm thuê , doanh số bán là 41 tỷ USD/năm, trong đó có 44 công ty nước ngoài. Số lượng lao động làm việc tại HSP là 139.416 người, trong đó có 4.134 người nước ngoài. Doanh số năm 2010 của HSP tính theo các loại sản phẩm là như sau: chip điện tử (67,5%), quang điện tử (chiếm 20,7%), máy tính (6,4%), viễn thông (2,7%), máy móc khác (2,4%).

Mô hình Hshinchu được cho là theo mẫu thung lũng Sillicon, khuyến khích đầu tư mạo hiểm vào Đài Loan như là một giải pháp để nhiều doanh nhân công nghiệp cao có thể tiếp cận nguồn tài chính để khởi nghiệp. Để thu hút doanh nghiệp vào HSP, Chính phủ Đài Loan đã đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi, chủ yếu bao gồm: miễn thuế 5 năm, mức thuế doanh nghiệp tối đa 22%, miễn thuế nhập khẩu máy móc, linh kiện, nguyên liệu và bán thành phẩm, khuyến khích nhà đầu tư góp vốn cổ phần bằng các bằng sáng chế và “know-how”. Chính phủ cũng trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất công nghiệp, hùn vốn với các nguồn vốn tư nhân để thành lập các công ty liên doanh. HSP được coi là vườn ươm của các công ty sản xuất vi mạch hàng đầu như TSMC và UMC (United Microelectronics). Ba lợi thế lớn của các cụm liên kết ngành/công viên khoa học này là sự tiếp cận lao động và đầu vào chuyên dụng dễ dàng hơn và hiệu ứng tràn về công nghệ trong nội bộ cụm đã thu hút các công ty điện tử lớn toàn cầu thuê ngoài các công ty Đài Loan. Tại HSP, đầu tư cho R&D rất được coi trọng. Hàng năm khoảng 1,4 tỉ USD, 5% doanh thu, được các công ty trong HSP chi ra cho R&D để sản xuất các sản phẩm mới. Riêng năm 2004 đã có 3.026 bằng sáng chế, thành quả nghiên cứu của 10.918 chuyên viên nghiên cứu R&D (khoảng 11% tổng số lao động đang làm việc ở đây) đã được công nhận. Một thống kê của Đài Loan cho thấy trong năm 2004, riêng HSP đã đóng góp 10% tổng sản lượng ngành công nghiệp, 24,95% CNTT, 8% ngoại thương và sử dụng khoảng 11% những sáng chế của Đài Loan.

Nhìn chung, chi tiêu mạnh tay cho R&D đã đưa Đài Loan trở thành nền kinh tế phát huy sáng kiến hiệu quả trong ngành CNTT. Vai trò của ITRI trong vấn đề này là rất lớn, thông qua việc liên kết giữa các đối tác nước ngoài và các trường đại học của Đài Loan. Năm 2004, chi tiêu R&D của khu vực chính phủ (trong đó có ITRI) chiếm 23,2% tổng chi tiêu R&D của quốc gia, năm 2008 giảm còn 16,8%, nhường vị trí cho chi tiêu R&D của các doanh nghiệp tư nhân (chiếm 70,7% năm 2008). Trong GDP, chi tiêu R&D của Đài Loan đã tăng rất nhanh, từ 2,32% GDP năm 2004 lên 2,77% GDP năm 2008. 70% chi tiêu R&D là giành cho CNTT, cho thấy Đài Loan có những ưu tiên đặc biệt cho ngành này. So với các nước có chi tiêu R&D lớn trên thế giới, Đài Loan là nước đứng đầu thế giới về chi tiêu R&D cho CNTT.

Trong nội bộ ngành CNTT, chi tiêu R&D chiếm 71,6% tổng chi tiêu R&D của chính phủ năm 2004, tăng dần lên đạt mức 73,9% trong tổng chi tiêu R&D của chính phủ năm 2008. Tính theo phân ngành, chi tiêu R&D trong ngành CNTT ưu tiên chủ yếu cho chiến lược “Two trillion”, đặc biệt là cho ngành LCD và vi mạch (chiếm 88,9% tổng chi tiêu R&D cho ngành CNTT giai đoạn 2001-2006). Chi tiêu R&D của các doanh nghiệp trong ngành CNTT năm 2008 cụ thể như sau: TSMC đứng hàng  thứ nhất, có chi tiêu R&D chiếm 6,16% doanh thu năm 2008, tổng chi tiêu của TSMC năm 2008 là 629,35 triệu USD. Tiếp theo là Mediatel (480,05 triệu USD, chiếm 22,24% doanh thu năm 2008); HTC (305,16 triệu USD, chiếm 6,3% doanh thu); Hon Hai (291,63 triệu USD, chiếm 0,62% doanh thu)…

Để tham gia hiệu quả vào chuỗi OEM/ODM, ngành CNTT Đài Loan đã tập trung đầu tư vào khâu tìm tòi ý tưởng ban đầu và thiết kế sản phẩm, sau đó tăng cường phối hợp nghiên cứu và phát triển sản phẩm để đưa vào sản xuất. Hay nói cách khác, đầu tư R&D của Đài Loan cho CNTT tập trung vào khâu cung ứng ODM, từ đó khuyến khích việc theo đuổi việc đánh giá thương hiệu của các sản phẩm CNTT.