Các công cụ và biện pháp đổi mới, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ở nước ta hiện nay

Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định sau hơn tám năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kềm chế, đầu tư nước ngoài vào trong nước tăng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao… Tuy nhiên, nhưng kết quả do đổi mới đem lại còn hạn chế và chưa vững chắc. Do những thiếu sót chủ quan và những tác động bất lợi của yếu tố khách quan, bên cạnh những nhân tố tích cực được phát huy, tình hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế, bộ máy và cán bộ quản lý chưa theo kịp, còn nhiều lúng túng.
Trước tình hình khó khăn và phức tạp đó, Nhà nước cần phải sử dụng những công cụ gì, có những biện pháp gì để nâng cao hiệu lực quản lý, phát huy vai trò của mìn trong việc ổn định nền kinh tế, đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

1. Các công cụ quản lý kinh tế Nhà nước.

Để đạt được mục tiêu va thực hiện những chức năng của mình, Nhà nước phải sử dụng những công cụ sau:

a. Pháp luật

Luật pháp tạo ra một hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh tế hoạt động trong an toàn và trong trật tự. Sự tồn tại của pháp luật là một nhu cầu khách quan bắt nguồn từ chính những đòi hỏi của các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Pháp luật hoàn toàn không phải là phương tiện sáng tạo ra các quan hệ kinh tế mà nó là “phươn tiện hoá” các giá trị xã hội vóiệt nam có của các quan hệ kinh tế. Chính vì thế, pháp luật kinh tế là các hành lang, các khung pháp lý ổn định, chính thức mà trong đó các quan hệ kinh tế được tự do tồn tại và phát triển phù hợp với giá trị vốn có của nó, được xã hội thừa nhận.
Nhìn chung, hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay còn chưa đầy đủ và chưa đồng bộ, do đó trước mắt Nhà nước cần ban hành sớm các bộ luật còn thiết để làm nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống pháp luật ở nước ta là phải đảm bảo kinh tế ổn định và phát triển bảo vệ lợi ích công dân, đảm bảo công bằng xã hội. Hoạt động này được xem là một hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, khoa học rất quan trọng, đòi hỏi phải được thực hiện công minh, bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân trước pháp luật

b. Kế hoạch hoá nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kế hoạch hoá là quá trình nhận thức và vận dụng tổng hợp các quy luật khách quan, trước hết là quy luật kinh tế trong đó có các quy luật của thị trường để xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội.

Kế hoạch hoá là công cụ chủ yếu của quản lý kinh tế. Bàn về vấn đề này, Lênin viết:”Sự cân đối thường xuyên được duy trì một cách có ý thức, bản thân nó đã nói lên tính kế hoạch”. Như vậy, tính cân đối vừa là thuộc tính vừa là phương pháp lập kế hoạch. Kế hoạch hoá ở đây phải xuất phát từ thị trường, nó chú ý đặc biệt đến việc phân tích các yếu tố ánh thưởng đến mức cung và cầu. Kế hoạch hoá chủ yếu là những thông tin và chỉ tiêu hướng dẫn để các nhà doanh nghiệp có một cách nhìn dài hạn về nền kinh tế.

Kế hoạch hoá thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động, tạo điều kiện vật chất cho sự vận động của thị trường, tạo điều kiện để cung cầu gặp nhau.

Trong nền kinh tế thị trường cần phân biệt hai kế hoạch: Kế hoạch kinh tế – xã hội (vĩ mô) va kế hoạch kinh doanh (vi mô). Kế hoạch kinh tế xã hội là kế hoạch có định hướng, hướng dẫn do Nhà nước xây dựng nhằm định hướng phát triển và cân đối cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch này vừa tạo ra môi trường cho sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Kế hoạch sản xuất kinh doanh là kế hoạch hành động, kế hoạch làm ăn, mua bán do các doanh nghiệp xây dựng và quyết định dựa theo kế hoạch Nhà nước và thị trường. Kế hoạch này phải đạt mục tiêu vừa thoả mãn nhu cầu xã hội vừa thu lợi nhuận tối đa.

Như vậy kế hoạch kinh tế xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường mà có thể điều tiết thị trường còn có kế hoạch sản xuất kinh doanh phải gắn chặt với thị trường, coi thị trường là mệnh lệnh đối tượng của kế hoạch. Mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường là mối liên hệ giữa chủ quan và khách quan. Vì vậy kế hoạch chỉ phù hợp với hiện thực phát triển kinh tế khi vận dụng đúng đắn tổng hợp các quy luật khách quan trong quá trình xây dựng chúng.

c .Chính sách tài chính.

Chính sách tài chính chủ yếu thể hiện ở hai nội dung thu và chi tiêu của Chính phủ, từ đó tác động vào tổng cung và tổng cầu, sản lượng, giá cả và việc làm.

Khi chính sách taì chính được áp dụng để giảm hoặc thoát khỏi suy thoái kinh tế thì được gọi là chính sách tài chính mở rộng. Chính sách này tác động thông qua hai con đường: Tăng chi tiêu Chính phủ để tăng tổng cầu hoặc giảm thuế để kích thích tiêu dùng và đầu tư.

Về vấn đề tăng chi tiêu của Chính phủ, Nhà nước cần ưu cho các khoản đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cấp phát cho sự nghiệp hoạt động kinh tế, chi cho các hoạt động thông tin dự báo, tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá công cộng, tăng đơn đặt hàng mua và những khoản chi khác. Như vậy sẽ làm tăng tổng cầu, qua đó tác động kích thích làm tăng tổng cung, do đó giải quyết được vấn đề suy thoái và thất nghiệp.

Về vấn đề đầu tư và giảm thuế, như ta đã biết, thuế là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước của bất cứ quốc gia nào. Trong các công cụ kinh tế mà Nhà nước sử dụng để quản lý nền kinh tế xã hội, thuế có vai trò rất quan trọng. Nếu chính sách thuế ban hành hợp lý, phù hợp với khả năng của nền kinh tế thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ổn định và lâu dài. Ngược lại, một chính sách thuế không phù hợp sẽ gây trở ngại lớn cho nền kinh tế, thậm trí có thể gây nên khủng hoảng kinh tế và rối loạn chính trị. Trong điều kiện hiện nay, khi việc giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn thế giới thì phương hướng chung để sửa đổi hoàn thiện chính sách thuế là mở rộng diện tích đánh thuế và hạ bớt mức thuế, thu hẹp độ chênh lệch giữa các mức thuế. Việc làm này sẽ kích thích tiêu dùng và khuyến khích các doanh nghiệp phát triển sản xuất và kinh doanh sản phẩm, hàng hoá dịch vụ thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Đồng thời, động viên các doanh nghiệp đầu tư vốn vào các dự án để mở rộng và phát triển sản xuất, động viên các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh cả ở những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội không thuận lợi. Như vậy sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện giải quyết việc làm trong nước.

Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm lạm phát thì được gọi là chính sách tài chính thắt chặt. Nó cũng tác động đến các biến cố c ủa nền kinh tế vĩ mô thông qua hai con đường: giảm chi tiêu Chính phủ hoặc tăng thuế.

Giảm chi tiêu của Chính phủ như giảm chi tiêu cho các hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cấp phát sự nghiệp hoạt động kinh tế … dẫn đến giảm cầu của xã hội, bình ổn vận giá và hạn chế được lạm phát.

Tăng thuế dẫn đến làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng, đầu tư dẫn đến giảm nhu cầu xã hội và làm cho giá cả đi vào ổn định, hạn chế được lạm phát.
Ngoài những công cụ đã nêu trên, Nhà nước còn có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhu: Chính sách tiền tệ, chính sách tiền lương – bảo hiểm, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách dự trữ quốc gia…

2. Các biện pháp đổi mới tăng cường vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế ở nước ta.

Ở nước ta, giai đoạn hiện nay, việc tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ngày càng cấp thiết và không còn cách nào khác là phải thúc đẩy mạnh đổi mới, hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước.

a. Đổi mới và bổ sung hệ thống pháp luật.

Tiếp tục đổi mới và bổ sung hệ thống pháp luật, nhất là luật kinh tế, luật bảo vệ môi trường. Tăng cường kỹ thuật trong việc chấp hành chính sách, chế độ của Nhà nước. Bảo đảm tính hệ thống của luật pháp và các văn bản dưới luật chú ý đến luật pháp và thông lệ quốc tế. Phát triển các hình thức dịch vụ pháp lý, phổ thông cập luật cho toàn dân – kiện toàn bộ máy kiểm tra việc thi hành pháp luật, nghiên cứu thành lập toà án kinh tế.

b. Đổi mới và nâng cao chất lượng kế hoạch.

Công bố kế hoạch hoá qua thời gian đổi mới đã có một số bước tiến bộ: chuyển từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hoá định hướng dẫn hoạt động cuả các thành phần kinh tế. Cần tiếp tục đổi mới nâng cao kế hoạch, xác định những cân đối lớn, hướng dẫn hoạt động của các thành phần kinh tế lấy thị trường làm đối tượng chính và căn cứ quan trọng. Sử dụng chương trình mục tiêu, chính sách đầu tư tín dụng… để tạo điều kiện và hướng dẫn sự phát triển của các thành phần kinh tế, nâng cao trình độ dự báo kinh tế – xã hội trong công tác kế hoạch.

c. Đổi mới ngân sách.

Lĩnh vực tài chính tiền tệ thời gian qua đã có một bước đổi mới nhưng nhìn chung còn yếu kém, đáng chú ý là hiện tượng thất thu thuế và bội chi ngân sách còn lớn. Nhà nước hầu như thả nổi phân phối thu nhập, các xí nghiệp quốc doanh. Ngân hàng chưa trở thành trung tâm thanh toán và tín dụng của xã hội. Vì thế cần đổi mới căn bản hệ thống tài chính tiền tệ, xây dựng chính sách tài chính quốc gia và thực hiện hệ thống cải cách tài chính theo hướng khai thác tiềm năng của các tầng lớp dân cư để phát triển kinh tế, nâng cao nguồn thu cho ngân sách, tạo điều kiện gây sức ép buộc các đn tìm tòi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh, thực hiện phân phối hợp lý thu nhập quốc dân, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, thực hành tiết kiệm đảm bảo công bằn xã hội và góp phần hạn chế đẩy lùi lạm phát. Đổi mới ngân sách là phải xây dựng một ngân sách Nhà nước lành mạnh, không bao cấp và ỷ lại vào viện trợ nước ngoài. Ngân sách Nhà nước phải được hạch toán theo nguyên tắc ngang giá, thu chi ngân sách phải hợp lý.

d. Nâng cao hiệu lực của chính sách tiền tệ – tín dụng.

Gấp rút tổ chức ngân hàng đủ mạnh, có khả năng thực hiện tốt nghiệp vụ trong cơ chế thị trường. Ngân hàng Nhà nước làm đúng chức năng quản lý đồng tiền của mình và giữ tính độc lập tương đối tốt trong phát hành tiền. Phát huy mạnh mẽ vai trò quan đòn bẩy và công cụ điều tiết vĩ mô của chính sách tiền tệ tín dụng. Kiên trì thực hiện những nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng, thúc đẩy nâng cao tính tự chủ tài chính của xí nghiệp để hiện đại hoá và hiệu quả hoá các xí nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.

e. Nâng cao vai trò kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể để có thể làm chủ được các lĩnh vực then chốt để từ đó điều chỉnh nền kinh tế qua hệ thống này thông qua tổng cung và tổng cầu.

g. Thực hiện tốt chính sách kinh tế đối ngoại, mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới và trong khu vực, tạo ra môi trường quan hệ giao lưu trao đổi về văn hoá, khoa học, thương mại để hoà nhập nền kinh tế việt nam vào nền kinh tế thế giới.