Các điều khoản chính của hợp đồng mua bán hàng hóa

 

a- Điều khoản về đối tượng của hợp đồng

Trong hợp đồng phải nêu tên hàng bằng những danh từ thông dụng nhất (tiếng phổ thông) để các bên hợp đồng và các cơ quan hữu quan đều có thể hiểu được.

Bởi hàng hoá có thể tồn tại dưới dạng tư liệu tiêu dùng, vật tư và tư liệu sản xuất khác; trong trường hợp mua bán vật tư, sản phẩm chúng ta vẫn có thể ghi tên loại hợp đồng này dưới dạng cụ thể như:

+ Hợp đồng mua bán vật tư;

+ Hợp đồng mua bán sản phẩm.

Đối tượng của hợp đồng chỉ hợp pháp khi nó là loại hàng hoáđược phép lưu thông; nếu đối tượng của loại hợp đồng này là hàng quốc cấm thì hợp đồng trở thành vô hiệu.

Nếu đối tượng của hợp đồng là loại hàng hoá nhà nước hạn chế lưu thông thì loại hợp đồng mua bán này thường bị nhà nước quản lý chặt chẽ số lượng vàđịa chỉ tiêu thụ, các chủ thể không được áp dụng nguyên tắc tự nguyện và phải tuân theo quy định của hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh .

     b- Điều khoản về số lượng hàng hoá

Số lượng vật tư, hàng hoá phải được ghi chính xác, rỏ ràng theo sự thoả thuận của các bên chủ thể và tính theo đơn vịđo lường hợp pháp của nhà nước với từng loại hàng như: kg, tạ, tấn, cái, chiếc, KW, KV, A…Nếu tính trọng lượng thì phải ghi cả trọng lượng tịnh và trọng lượng cả bao bì.

Trong những hợp đồng có mua bán nhiều loại hàng hoá khác nhau thì phải ghi riêng số lượng, trọng lượng của từng loại, sau đó ghi tổng giá trị vật tư, hàng hoá mua bán.

Nếu các bên phải thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh nhà nước giao đối với loại hàng hoáđặc biệt nào đó thì phải ghi vào hợp đồng đúng số lượng hàng hoátheo số lượng nhà nước giao (trừ trường họp không thểđáp ứng đủ phải báo cáo cấp trên điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch).

c-Điều khoản về chất lượng, quy cách hàng hoá

Phải ghi rõ trong hợp đồng phẩm chất, quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, kích thước, màu sắc, mùi vị, độẩm, tạp chất …Nhưng tuỳ từng loại hàng mà hai bên có thể thoả thuận về các điều kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp.

Căn cứ vào tiêu chuẩn để thoả thuận chất lượng: thông thường sản phẩm công nghiệp được tiêu chuẩn hoá; có các loại tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn địa phương, tiêu chuẩn ngành kinh tế.

Nếu chưa được tiêu chuẩn hoá các bên phải thoả thuận chất lượng bằng sự miêu tả tỉ mỉ, không được dùng khái niệm chung chung, khó quy trách nhiệm khi vi phạm như: “chất lượng phải tốt”, “hàng hoá phải bảo đảm” hoặc “hàng phải khô “  hay “còn ăn được”.

Đối với hàng hoá có chất lượng ổn định thường được thoả thuận theo mẫu hàng, đó là hàng được sản xuất hàng loạt. Yêu cầu khi chọn mẫu phải tuân theo nguyên tắc:

+ Phải chọn mẫu của chính lô hàng ghi trong hợp đồng;

+ Mộu hàng phải mang tính chất tiêu biểu cho loại hàng đó;

+ Số lượng mẫu ít nhất là 3, trong đó mỗi bên giữ một mẫu và giao cho người trung gian giữ một mẫu.

Mẫu hàng là một bộ phận không thể tách rời hợp đồng nên phải cặp chì, đánh dấu, ghi số hợp đồng vào mẫu…để đề phòng mất mát và tránh tranh chấp xảy ra sau này.

Ngoài ba phương pháp quy định chất lượng hàng hoá phổ biến trên, trong thực tế ký kết hợp đồng còn áp dụng những phương pháp sau:

– Xác định chất lượng theo điều kiện kỹ thuật: Bao gồm những đặc tính kỹ thuật cụ thể, mô tả loại vật liệu sản xuất ra hàng hoá, nguyên tắc và phương pháp kiểm tra, thử nghiệm. Điều kiện kỹ thuật thường dùng xác định chất lượng những mặt hàng được thực hiện theo đơn đặt hàng cá nhân, chẳng hạn: tàu biển, thiết bị công nghiệp phức tạp, loại thiết bị duy nhất. Điều kiện kỹ thuật đối với máy móc và thiết bị có thể do chính người đặt hàng đưa ra và người cung cấp sẽ chấp nhận khi ký hợp đồng mua bán, hoặc là do công ty cung cấp nêu ra và người đặt hàng phê chuẩn. Điều kiện kỹ thuật được đua ra ngay hoặc trong văn bản hợp đồng hoặc trong phụ lục của hợp đồng.

– Xác định sau khi đã xem sơ bộ: Trong hợp đồng phương pháp này được thể hiện bằng những từ “đã xem vàđồng ý “. Với phương pháp này người mua được quyền xem toàn bộ lô hàng trong một thời gian quy định. Người bán bảo đảm chất lượng hàng như khi người mua đã xem vàđồng ý. Trên thực tế trong trường hợp này người bán không chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoáđược giao nếu như trong đó không có những yếu điểm mà khi xem hàng người mua không phát hiện ra và không thông báo trước khi thực hiện hợp đồng. Hàng hoá bán theo cách này thường ở các cuộc đấu giá vàđược lấy từ kho ra.

– Xác định theo hàm lượng từng chất trong hàng hoá: phương pháp này đòi hỏi hợp đồng phải quyết định bằng phần trăm hàm lượng tối thiểu được phép những chất cóích và hàm lượng tối đa được phép có tạp chất. Chẳng hạn khi mua bán kim loại và quặng thì chỉ số chất lượng là hàm lượng chất cơ bản và một số tạp chất, trong buôn bán đường thì nêu hàm lượng xaccaroza, các mặt hàng chứa dầu thì hàm lượng dầu.

– Xác định theo sản lượng thành phẩm: Với phương pháp này hợp đồng lập chỉ số xác định số lượng sản phẩm cuối cùng thu được từ nguyên liệu. Chẳng hạn bột đường từ gạo, dầu từ hạt. Chỉ số này có thể quy định bằng phần trăm và bằng đại lượng tuyệt đối.

– Xác định theo nhãn hiệu hàng hoá: áp dụng cho loại hàng cóđăng ký chất lượng sản phẩm đã có uy tín trên thương trường và các bên mua bán nhiều lần.

– Xác định theo hiện trạng hàng hoá: áp dụng cho loại hàng tươi sống có mùi vị, màu sắc, độ chín không ổn định; trong trường hợp này người bán không chịu trách nhiệm về tình trạng xấu đi của chất lượng hàng hoá trên đường đi.

– Xác định theo phẩm chất bình quân tương đương: tức là việc xét nghiệm các chất chủ yếu trong hàng hoá phải tương đương với hàm lượng chất chủ yếu đã thoả thuận trong hợp đồng, có thể chấp nhận một sự chênh lệch nho nhỏ không đáng kể, thường được áp dụng với loại hàng là ngũ cốc, thực phẩm.

d- Điều khoản về bao bì và ký, mã hiệu

Bao bì có dụng bảo vệ hàng hoá, tăng vẻ mỹ quan của hàng hoá làm cho hàng hoá hấp dẫn người mua với cách đóng gói và ký mã hiệu ghi trên bao bì. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay các nhà sản xuất kinh doanh rất quan tâm đến chất lượng và hình thức bao bì do vậy phải mô tả bao bì trong hợp đồng một cách tỉ mỉ về hình dáng, kích cỡ bao bì, chất liệu, độ bền và cả cách đóng gói hàng, vị trí ký mã hiệu, nội dung ký mã hiệu trên bao bì phải đảm bảo ghi nhận đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng từng loại hàng như: tên hàng, tên cơ sở sản xuất, trọng lượng hàng, số hiệu đơn hàng, phải cóđủ những chỉ dẫn đặc biệt về vận chuyển, bảo quản bốc xếp.

Trong hợp đồng cũng cần phân biệt bao bì bên ngoài (hòn, hộp các tông, bao, container…) và bao bì bên trong gắn liền với hàng hoá. Trong nhiều trường hợp vẫn phải thoả thuận cả bao bì bên ngoài cũng gắn liền với hàng hoá sẽ thuộc về người mua cùng với hàng hoá, cũng có trường hợp quy định giao hàng trong bao bì người mua đưa trước hoặc người mua phải trả lại bao bì cho người bán, hoặc người mua phải thanh toán riêng bao bì cho người bán không tính vào giá hàng; có thể phải quy định phương thức thanh toán bao bì trong hợp đồng theo các hướng tính giá bao bì theo phần trăm giá hàng; tính giá bao bì tách dời với giá hàng.

     e- Điều khoản về giao, nhận hàng

Trong điều khoản này phải xác định trách nhiệm của người bán phải thông báo cho người mua vèe việc hàng đã chuẩn bị xong để giao, bên bán còn phải liệt kê những chứng từ giao hàng mà người bán phải giao khi nhận hàng. Trong hợp đồng cần quy định rõ lịch giao nhận; trong lịch giao nhận cần xác định cụ thể số lượng cần giao, thời gian, địa điểm, phương thức giao nhận vàđiều kiện của người đến nhận hàng như sau:

Thời gian giao nhận: cần ghi vào hợp đồng thời gian giao nhận cụ thể, cần chia theođợt, theo ngày, tháng…cũng có thể lập phụ lục hợp đồng với lịch giao nhận phù hợp với tình hình thực tế hai bên có thể chấp nhận được. Nếu giao nhận thường xuyên theo khối lượng lớn thì chia theo yêu cầu của bên mua đểđáp ứng đòi hỏi của thị trường, thời gian giao nhận không nhất thiết phải dàn đều theo tháng, quý…

Địa điểm giao nhận: cần thoả thuận cụ thểđịa chỉ nơi giao nhận, phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện cố gắng giao thẳng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, bỏ bớt các khâu trung gian không cần thiết.

Bên bán có trách nhiệm ký hợp đồng vận chuyển đua vật tư hàng hoa đến địa điểm do bên mua yêu cầu đã ghi vào hợp đồng hoặc đến một địa điểm nao đó mà bên bán cóđủ khả năng đáp ứng, mọi phí tổn sẽ do bên mua thanh toán. Bên mua có thể tự lo liệu phương tiện đểđến nhận hàng tại kho của bên bán, trong trường hợp này bên mua dược hưởng toàn bộ chi phí vận chuyển do bên bán thanh toán.

Phương thức giao nhận: giao nhận phải qua cân, đong đo, đếm, tính, khi cần thiết phải kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, dầu giao vàđầu nhận phải áp dụng cùng một phương thức, chẳng hạn nếu vua cân vừa đếm ởđầu giao thìđầu nhận cũng phải cân vàđếm. Nếu là vận tải liên vận thì bên vận tải phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn cho hàng hoáởđầu nhận vàđầu giao cuối cùng.

Trong khi giao nhận nếu thấy hàng hoá thiếu hụt thì các bên phải lập biên bản thương vụ làm cơ sở cho việc đền bù và giải quyết tranh chấp sau này.

Khi giao nhận hàng, vật tư nếu xét they cần phải bao gói, chia lẻ, cắt, chặt…thì bên bán có thể làm các dịch vụ này và tiền công đựoc tính thêm vào giá thành sản phẩm.

Hai bên phải thoa thuận kỹ về tỉ lệ hao hụt trong quá trình bảo quản và vận chuyên tronh trường họp chua có quy định của nhà nước và ghi vào hợp đồng để làm cơ sở cho việc tính toán sau này.trách nhiệm do mất mát, hao hụt quá tỉ lệ cho phép trên đường vận chuyển nếu bên mua tự vận chuyển lấy thì bên mua phải chịu.

Điều kiện của người đại diện đến nhận hàng: khi đến nhận hàng người nhận phải xuất trình các giấy tờ bảo đảm tin tưởng đểđược giao hàng như sau:

+ Giấy giới thiệu của cơ quan bên mua;

+ Phiếu xuất kho của cơ quan bên bán;

+ Giấy chứng minh nhân dân.

Cuối cùng phải quy trách nhiệm hai bên trong việc thực hiện lịch giao nhận như: bên mua không đến nhận hàng theo lịch thì phải chịu chi phí lưu kho bãi hoặc nếu bên mua đưa phương tiện vận tải đến mà bên bán không cóhàng giao thài ngoài việc bị phạt hợp đồng còn phải chịu chi phí thực tế cho việc điều động phương tiện.

     g- Điều khoản về bảo hành hàng hoá và giấy hướng dẫn sử dụng

Về nguyên tắc những hàng hoá có tính năng kỹ thuật, người sản xuất phải có trách nhiệm bảo hành trong một thời gian nhất định, có thể là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm…đồng thời họ phải làm giấy hướng dẫn sử dụng cần thiết cho loại hàng đó, nhất là hàng dựoc liệu, mỹ phẩm và phương tiện kỹ thuật. Đối với loại hàng có in nhãn hiệu ghi luôn phiếu bảo hành và hướng dẫn sử dụng trong đó, thì không phải thoả thuận điều này trong văn bản hợp động.

Trong nhiều trường hợp bên bán hàng và người trực tiếp sản xuất ra hàng là hai chủ thể khác nhau (chẳng hạn hàng đem ký gởi, hàng đã bán buôn cho chủ hàng…) thì người sủ dụng hàng hoá sẽđưa thẳng tới cơ sở sản xuất yêu cầu thực hiện trách nhiêm bảo hành.

     h- Điều khoản về giá cả

Khi định giá hàng trong hợp đồng mua, bán cần nêu rõđơn vị tính giá và phương pháp định giá.

Xác định đơn vị tính giá

Chọn đơn vị tính giá cần căn cứ vào tính chất của loại hàng và thônh lệ buôn bán mặt hàng đó trên thị trường, giá trong hợp đồng có thể quy định theo các phương pháp sau:

+ Một đơn vị khối lượng nhất định hoặc theo những đơn vị thường dùng trong buôn bán mặt hàng đó như: trọng lượng, độ dài, diện tích, thể tích, cái, chiếc…hoặc những đơn vị khác như trăm, tá, chục…

+ Trọng lượng căn cứ vào hàm lượng thành phần chất chủ yếu trong hàng hoáđối với quặng, tinh dầu, hoá chất…

+ Tỉ lệ của những tạp chất lẫn trong hàng hoá. Chẳng hạn giá loại gạo 20% tấm là…

Khi giao hàng có phẩm chất, chủng loại khác nhau, giáđược quy định cho từng mặt hàng, từng loại phẩm chất và từng loại mác hàng khác nhau. Khi giao hàng thiết bị toàn bộ giá thường định theo giá trị của từng chuyến giao hàng hoặc từng boọ phận máy vàđược nêu rõ trong bản phụ lục kèm theo hợp đồng. Nếu giá tính theo trọng lượng, phải quy định rõ: trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh hay trọng lượng cả bì coi như tịnh, hoặc phải thoả thuận xem giá bao bì cóđược tính trong hàng hay không. Những quy định này cũng cần phải nêu rõ khi tính giátheo chiếc.

Phương pháp định giá

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay nói chung phương pháp định giá như thế nào để bên mua có thể chấp nhận được là do nghệ thuật tiếp thị của bên bán. trừ những sản phẩm  và vật tưđặc biệt nhà nước quản lý giá thì cần định giá loại hàng hoá này theo những phương pháp sau:

+ Đối với hàng hoá do chính phủ, Uỷ ban vật giá nhà nước, các bộ, UBND cấp tỉnh quyết định mức giá cụ thể gắn liền với quy cách, phẩm chất hàng hoá thì các bên phải chấp hành đúng giá do các cấp đó công bố.

+ Nếu sản phẩm, hàng hoáđược các cơ quan có thẩm quyền nói trên đã uỷ quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới cụ thể hoá giá chuẩn hoặc quy định giá trong khung giá theo quy cách, phẩm chất…thì giá của sản phẩm cụ thể ký kết HĐKT là giá do cơ quan được uỷ quyền công bố.

+ Đối với sản phẩm, hàng hoá do UBND cấp tỉnh quyết định giá chuẩn hoặc khung giá, các cơ sở sản xuất, lưu thông được nhà nước cho phép quy định giá sản phẩm cụ thể theo quy cách phẩm chất…thì giá sản phẩm cụ thể ký kết HĐKT là giá hai bên thoả thuận. Giá hàng hoá do hai bên thoả thuận phải bảo đảm tương quam hợp lý với giá sản phẩm chuẩn và quy cách phẩm chất, nhất thiết không được vượt ra ngoài khung giá của nhà nước quy định.

+ Những sản phẩm hàng hoá thuộc danh mục nhà nước quy định giá, nhưng chưa được cấp có thẩm quyền quyết định cụ thể thì giá trong hợp đồng là giá tạm tính do hai bên thoả thuận. Khi có giá chính thức các bên ký hợp đồng phải ghi lại giá trong hợp đồng và thanh toán theo giá chính thức. Nếu HĐKT đã hết hiệu lực mà chua có giá chính thức thì các bên ký kết hợp đồng được phép thanh toán theo giáđề nghị trong pgương án giáđã trình xét duyệt.

+ Những vật tư, hàng hoá ngoài danh mục nhà nước quản lý giá, thì giá trong hợp đồng do hai bên thoả thuận, nhưng phải chấp hành đúng chính sách, nguyên tắc, phương pháp tính giá của nhà nứơc (nếu có).

     i- Điều khoản thanh toán

Đối với hàng nội địa, việc thanh toán phải theo quy định của nhà nước. Tuỳtheo tính chất của các loại giao dịch kinh tế và các quan hệ chi trả, hai bên có thể chọn một trong các thể thức thanh toán chấp nhận được như:

Thanh toán bằng đổi hàng;

Thanh toán uỷ nhiệm chi (chuyển tiền);

Thanh toán bằng séc;

Thanh toán bằng thư tín dụng….

Hai bên phải thoả thuận ngay từđầu thanh toán bằng tiền Việt Nam hay bằng ngoại tệ nào.

     k- các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Khi xét thấy cần thiết phải áp dụng một biện pháp bảo đảm vật chất nào đó cho việc thực hiện các nghia vụ trong hợp đồng, các bên có quyền thoả thuận một trong các bện pháp như: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, đãđược pháp lệnh HĐKT quy định thủ tục áp dụng.

   l- Điều khoản về trách nhiệm vật chất

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, điều khoản này quy tụ những điều cam kết rất cụ thể về sự quyết tâm thực hiện nghiêm túc mọi điêù khoản đã thoả thuận. Trong đó cần xác định một cách cụ thể nhgững trường hợp phải bồi thường do trách nhiệm lên đới, xác định các mức phạt cụ thể do vi phạm về phẩm chất, quy cách hàng hoá, vi phạm do giao thiếu số lượng hàng, phụ tùng, phụ kiện thiếu đồng bộ, mức phạt được chọn từ 6% – 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm, trường hợp có vi pham về thời gian địa điểm giao nhận bên kia có quyền lập biên bản vàđòi phạt vi phạm ở mức tương ứng so với tổng giá trị hàng hoá trong hợp đồng.

Đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo quy định của nghịđịnh số 17- ngày 16/01/1990- HĐBT thì ngoài khoản phạt theo lãi xuất tín dụng quá hạn bên vi phạm còn phải chịu khoản bồi thường thiệt hại bằng tổng số tiền lãi mà bên vi phạm phải trả cho ngân hàng do bên vi phạm không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán gây ra.

Trường hợp các bên đã ký hợp đồng mà có một bên không thực hiện hoặc đối tác đình chỉ không có lý do chính đáng thìtheo pháp luật có thể bị phạt cao nhất tới mức 12% giá trị phần hợp đồng đã ký.

Trong khi giao nhận hàng, sự vi phạm có thể xảy ra thì chia làm hai giai đoạn quy trách nhiệm: 10 ngày lịch đầu sẽ phạt 4% giá trị hàng hoá và phạt 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo cho tới mức tối đa là 12% giá trị hàng hoá; ngoài ra bên vi phạm phải trả các khoản lãng phí, chi phí lưu kho bãi và bảo quản cũng như mọi khoản tiền phạt khác mà bên kia phải trả do bên vi phạm gây ra.

Trong điều 17/HĐBT lại quy định việc tổng hợp các trường hợp phạt trong một hợp đồng cụ thể chỉđược thi hành loại phạt nào có số tiền cao nhất nếu xảy ra nhiều loại vi phạm mà các bên đã thoả thuận để giới hạn tối đa các mức phạt trong một hợp đồng (trừ khoản phạt theo lãi xuất ngân hangf do chậm thanh toán).

Trong hợp đồng mua bán thoả thuận mức phạt do vi phạm sự bảo hành phải rất cụ thể. Theo pháp luật việc thông báo có sai sót về chất lượng hàng hoá phải được xác minh trong 15 ngày, có lập biên bản riêng, nếu bên bán không trả lời trong thời gian đó coi như chấp nhận sai sót. Bên bảo hành phải nhận trách nhiệm sửa chữa các sai sót hoặc thanh toán các chi phí sửa chữa nếu bên mua tự làm; nếu sai sót không được sửa chữa hoặc việc sửa chữa kéo dài dẫn tới việc  hàng hoá không được sử dụng đúng mục đích của hợp đồng thì bên bán coi như không thực hiện hợp đồng và bị phạt tới 12% giá trị hợp đồng và bồi thường mọi thiệt hại khác (nếu có). Trong trường hợp hàng hoá hư hỏng nặng không thể sửa chữa hoặc sửa chữa không đem lại hiệu quả sử dụng như bên mua mong muốn thì bên bán cần đổi hàng khác cho bên mua.

m- Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng

Phần này các bên cần thoả thuận ba vấn đề cơ bản. Trước hết cần xác định trách nhiệm thông báo cho nhau biết tiến độ thực hiện hợp đồng, thoả thuận giải quyết mọi tranh chấp, nên áp dụng sự thương lượng giũa hai bên là chủ yếu, trong trường hợp khônh đạt được sự nhất tríđôi bên mới đưa đơn khiếu lại ra toàán kinh tếđủ thẩm quyền giải quyết loại hợp đồng này, đồng thời các bên thoả thuận luôn trách nhiêm trả lệ phí về liểm tra vàán phí do bên nào chịu (thường lệ ai có lỗi bên đó phải gánh chịu loại chi phí này).

n- Điều khoản về thoả thuận khác (nếu cần)

Trong các trường hợp sét thấy cần các bên có thểđưa vào hợp đồng những vấn đề cụ thể nào đó mà pháp luật về HĐKT chưa quy định để thoả thuận cho đầy đủ và rõ ràng vì lợi ích của một bên hoặc tránh những khả năng xấu có thể xảy ra do linh nghiệm ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng đã cho họ bài học về sự thận trọng và thẳng thắn, miễn là sự thoả thuận này không trái với pháp luật nhà nước.

o- Điều khoản về hiệu lực của hợp đồng

Trong điều khoản này hai bên căn cứ vào khối lượng công việc trong hợp đồng để xác định thời hạn hợp đồng bắt đầu có hiệu lực từ ngày nào, kết thúc ngày nào, xác định thời gian tổ chức họp thanh lý vào ngày nào (thường quy định sau khoảng tối đa là 10 ngày khi hợp đồng hết hiệu lực), có thể quy định cụ thể cho một bên lãnh trách nhiệm đứng ra tổ chức cuộc họp thanh lý hợp đồng, có lập biên bản để ghi nhận ưu khuyết điểm của các bên, đặc biệt là chuyển giao mọi nghĩa vụ, trách nhiệm còn lại của hợp đồng vào biên bản này để hai bên tiếp tục thực hiện cho thật hoàn chỉnh trách nhiệm với nhau và cả trách nhiệm với các cơ quan hưu quan khác.