Các giải pháp duy trì cạnh tranh và chống độc quyền

Từ thực trạng độc quyền ở Việt Nam ta thấy rằng: còn nhiều tồn tại cần tháo gỡ.
Từ thực trạng cho thấy cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn có nhiều tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại đó là do:

– Hệ thống những quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cạnh trạnh và độc quyền chưa hoàn chỉnh, ý thức chấp hành pháp luật của mọi người và của các doanh nghiệp chưa nghiêm minh, nên những hành vi cạnh tranh không hợp thức còn tồn tại khá phổ biến.

– Quan điểm về vai trò của cạnh tranh và độc quyền chưa nhất quán nên nội dung một số quy định pháp lý liên quan đến môi trường cạnh tranh còn mâu thuẫn với nhau.

– Thủ tục hành chính chưa được cải thiện, đơn giản hoá kịp thời nên còn gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư và cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh, làm tăng chi phí giao dịch, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở trong nước so với các nước khác.

– Hệ thống thông tin còn yếu kém, chưa kịp thời cân xứng thiếu minh bạch đã gây ra sự bất bình đẳng trong các cơ hội kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến môi trường cạnh tranh.

– Quá trình cải cách hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước diễn ra còn chậm. Còn nhiều doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không có hiệu quả nhưng vẫn bao cấp, duy trì, bảo hộ…

Trong thời gian tới trước yêu cầu duy trì phát triển kinh tế với nhịp độ cao và của quá trình hội nhập thì việc cải thiện môi trường cạnh tranh là yêu cầu cấp bách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế thế giới. Để duy trì cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền chúng ta cần phải thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất: tiếp tục đổi mới nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế. Phải coi cạnh tranh trong nền kinh tế pháp luật hợp thức là động lực của sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Xác định một cách rõ ràng và hợp lý vai trò của Nhà nước cũng như vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, hạn chế bớt những doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh. Thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nước cần phải được giảm dần, các rào cản đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được tháo gỡ dần nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia.

Việc đổi mới nhận thức cần được thể hiện trong toàn bộ hệ thống quản lý Nhà nước, trong các chương trình và chiến lược cải cách hành chính, trong tổ chức, phong cách làm việc hành vi ứng xử của các cơ quan công quyền.

Muốn như vậy thì trước tiên cần phải đưa nội dung về cạnh tranh và độc quyền vào chương trình giáo dục của các trường đại học thuộc khối kinh tế và kinh doanh. Để có được đội ngũ cán bộ, các nhà kinh tế sau khi ra trường có một tầm hiểu biết về cạnh tranh và độc quyền. Đào tạo các khoá ngắn hạn cho các doanh nghiệp và công chức Nhà nước để nâng cao, trau dồi kiến thức về cạnh tranh và độc quyền. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về cạnh tranh và độc quyền. Để từ đó có một chính sách cạnh tranh phù hợp và việc thực hiện các chính sách cạnh tranh này dễ dàng hơn.

Thứ hai: cải tổ pháp luật về cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành một cách trôi chảy, hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Nới lỏng các điều kiện ra nhập và rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh. Như vậy việc hình thành nên khung pháp lý chung cho các loại hình kinh doanh thuộc các khu vực kinh tế khác nhau là điều cần thiết. Việc cải tổ pháp luật về cạnh tranh cần phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật:

Xây dựng luật: để đảm bảo tính chất khách quan về lâu dài cần chuyển việc dự thảo luật từ cơ quan lập pháp sang cho cơ quan hành pháp. Trước mắt, việc soạn thảo luật cần được tổ chức một cách dân chủ với sự tham gia của cơ quan có liên quan.

Xây dựng văn bản dưới luật: phải đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh và sự tham gia rộng rãi của những người chịu ảnh hưởng của quy định.
Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh cần xoá bỏ những quy định hiện hành không phù hợp với nền kinh tế thị trường, với những cam kết quốc tế nhằm mở rộng quyền kinh doanh, quyền chủ động cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Bổ xung những luật và văn bản dưới luật còn thiếu, chưa hướng dẫn thi hành. Trong tâm xem xét là các lĩnh vực pháp luật về cạnh tranh độc quyền.

Sửa đổi những điều khoản của bộ luật dân sự có liên quan đến quan hệ giữa luật Việt Nam và luật nước ngoài.

Để thực hiện được những việc như trên thì trong quá trình sửa đổi luật, bổ sung và ban hành pháp luật có liên quan đến cạnh tranh và độc quyền thì cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương với sự tham gia của các doanh nghiệp, các chuyên gia nghiên cứu kinh tế và người tiêu dùng. Việc tham gia đồng bộ giữa các bên khi ban hành sửa đổi luật sẽ đưa ra được các quy định phù hợp với tình hình thực tế về cạnh tranh và độc quyền hơn.

Thứ ba: xây dựng một cơ quan chuyên trách theo dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền. Rà soát lại và hạn chế bớt số lượng các lĩnh vực độc quyền, kiểm soát giám sát độc quyền chặt chẽ hơn. Nhà nước cần giám sát chặt chẽ hơn các hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp lớn. Cần phải đổi mới chế độ chứng từ, kế toán kiểm toán để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát tài chính của các doanh nghiệp.

Thứ tư: cải thiện môi trường thông tin và pháp luật theo hướng minh bạch và kịp thời hơn, đồng thời nhanh chóng cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh. Cụ thể:

– Việc thành lập doanh nghiệp mới: việc quyết định thành lập các doanh nghiệp Nhà nước cần được chuyển sang cho các cơ quan quyền lực đại biểu của nhân dân. Việc tăng cường kiểm tra giám sát từ các cơ quan này sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động tích cực và có hiệu quả hơn, tiết kiệm được các nguồn lực của Nhà nước .

Thành lập, bổ sung đầy đủ, chi tiết và cập nhật hàng năm những ngành nghề mà doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoải không được đăng ký kinh doanh. Ngoài các mục này các doanh nghiệp được thành lập theo chế độ đăng ký với một cơ quan đăng ký thống nhất trong quốc gia. Cơ quan đăng ký kinh doanh đồng thời chịu trách nhiệm cả về việc điều chỉnh nội dung giấy đăng ký kinh doanh và việc mở văn phòng đại diện, chi nhánh trong nước và nước ngoài theo chế độ doanh nghiệp chủ động đăng ký. Xoá bỏ các điều kiện cấp phép về nội địa hoá, tỉ lệ xuất khẩu, tự cân đối ngoại tệ.

Các cơ quan cấp phép hiện hành sẽ chuyển chức năng cấp phép, thẩm định sang chức năng xúc tiến và cung cấp dịch vụ đầu tư.

– Đất đai: chuyển các thủ tục hành chính xin chuyển đổi mục đích và quyền sử dụng về một cơ quan giải quyết. Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho các doanh nghiệp khi xin thuê đất quy hoạch và xây dựng khu công nghiệp.

– Về vốn: mở rộng khả năng vay vốn từ các nguồn ưu đãi để đầu tư phát triển khả năng tự huy động vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp nước ngoài thông qua các kênh phát hành trái phiếu và chứng khoán.
Trên cơ sở nguyên tắc cạnh tranh, chỉ áp dụng việc giới hạn mua cổ phần của những doanh nghiệp lớn có khả năng chi phối thị trường, tạo nên độc quyền, còn đối với những người quản lý, người ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài nên khuyến khích để tăng nguồn vốn của doanh nghiệp, tạo điều kiện đổi mới máy móc, đầu tư trang thiết bị nâng cao năng suất lao động.

– Về lao động: các loại quy định về thang bảng lương, lương thực tế , trợn cấp, chế độ thưởng, lương tối thiểu, thuế thu nhập, các hình thức tuyển dụng lao động cần phải có sự thống nhất dựa trên khung pháp lý chung của Nhà nước và có sự đóng góp ý kiến của công đoàn.

– Tiếp cận thị trường.
+ Quyền xuất nhập khẩu: mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong nước.
+ Xây dựng và ban hành các thủ tục, điều kiện cấp phép nhập khẩu, có nhiều loại thuế thay thế hợp lý tương đương đối với các mặt hàng để khi thực hiện không gây các cản trở cho việc trao đổi hàng hoá, thương mại.

+ Ban hành danh mục cấp và xuất nhập khẩu có điều kiện, ngoài những mặt hàng này nên khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường hoạt động trao đổi thương mại làm tăng luồng chu chuyển hàng hoá trong và ngoài nước.
Hạn ngạch là biện pháp hạn chế thương mại cần xoá bỏ. Việc xoá bỏ hạn ngạch cần được giải quyết cùng với việc chỉ định đầu mối, bán ngoại tệ và Nhà nước quy định giá. Việc phân bổ hạn ngạch cần phải dựa vào những mặt hàng cụ thể, thay thế chế độ giá tính thuế tối thiểu bằng giá ghi trên hợp đồng, xoá bỏ chế độ phụ thu.

Triển khai cải cách các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hoá và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, thống nhất thủ tục trong cả nước.

– Về thuế quan: miễn giảm thuế tối đa đối với mọi mặt hàng xuất khẩu, kể cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu tại chỗ.
Về thuế nhập khẩu: xoá bỏ cách đánh thuế đựa trên mục đích sử dụng, giảm số thuế và mức thuế. giảm thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất trong nước tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

– Về chuyển giao công nghệ: cần tăng ngân sách cho các ngành nghiên cứu khoa học công nghệ, có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ làm nghiên cứu khoa học, trọng dụng nhân tài, được cung cấp phổ biến thông tin, phát biểu ý kiến khách quan dưới góc độ nghiên cứu khoa học. Hạn chế việc chảy máu chất xám, khuyến khích thu hút các nhà khoa học nước ngoài vào trong nước nghiên cứu khoa học.
Khuyến khích tư nhân đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sản xuất. Sửa đổi chế độ hoạch toán, kế toán nhằm khuyến khích khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ, phát triển thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với việc chuyển giao công nghệ. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với quốc tế, sử dụng kinh nghiệm quản lý của quốc tế để áp dụng cho các doanh nghiệp.

Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập cảnh, cấp phép lao động, thuê chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc cho các tổ chức, cơ quan Việt Nam.

– Giảm chi phí đầu vào:

Cải tiến thủ tục và trình tự thu thuế, hạn chế tình trạng thu thuế ngoài thẩm quyền của các bộ ngành và địa phương.
Giảm mức thuế, bao gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân thu nhập doanh nghiệp, tương đương với các nước trong khu vực. Xem xét lại mức đóng góp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và công đoàn phí. Từ đó giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp.

Thứ năm: cơ cấu lại và kiểm soát độc quyền kể cả độc quyền tự nhiên.
Cần xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh, chỉ duy trì độc quyền ở một số ngành quan trọng phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế như: sản xuất và truyền tải điện năng, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, xây dựng cơ sở hạ tầng… kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp độc quyền thuộc Nhà nước.

Việc xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh có thể thực hiện theo hai hướng .
Hướng thứ nhất: cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh bằng cách xây dựng điều kiện cấp phép cho các loại hình dịch vụ phù hợp với thời hạn nêu trong cam kết quốc tế. Cần tạo điều kiện khuyến khích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động. Các doanh nghiệp mới có thể đến từ một lĩnh vực kinh doanh khác có liên quan. Các doanh nghiệp này có thể sử dụng chung cơ sở hạ tầng với doanh nghiệp đang sử dụng hoặc sẵn có của mình.

Hướng thứ hai: chia tách các doanh nghiệp đang chiếm vị trí chủ đạo trong lĩnh vực thành các đơn vị nhỏ độc lập, đồng thời chia tách các doanh nghiệp không trực tiếp gắn với cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng khỏi doanh nghiệp chủ đạo. Việc chia tách này cần đảm bảo các doanh nghiệp độc lập với nhau không phụ thuộc vào nhau hay vào doanh nghiệp chủ đạo. Như vậy sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau mà không bị hạn chế lĩnh vực và địa bàn kinh doanh.

Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực thì sự tham gia trực tiếp của Nhà nước vào sự hoạt động của các doanh nghiệp là không cần thiết. Trường hợp này Nhà nước chỉ cần ban hành một số quy định hướng dẫn hoạt động và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh vào để cho các doanh nghiệp tự điều chỉnh hoạt động của mình dựa vào thị trường.

Trường hợp vẫn phải duy trì độc quyền một số ngành chủ đạo thì Nhà nước cần ban hành những quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các công ty này. Xây dựng các luật đặc thù cho từng lĩnh vực như: luật viễn thông, luật điện lực… Để kiểm soát độc quyền của các doanh nghiệp này và tránh tình trạng lạm dụng ưu thế để chi phối thị trường mà vẫn đảm bảo quyền tự chủ của các doanh nghiệp. Trong các tổng công ty độc quyền cần phải tách bộ phận xây dựng hoạch định chính sách với bộ phận kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách để có một chính sách kinh doanh có hiệu quả, khách quan.

Thứ sáu: Nhà nước cần phải có luật cạnh tranh với mục đích đảm bảo và duy trì môi trường cạnh tranh. Nội dung luật cạnh tranh cần được thường xuyên nghiên cứu, thay đổi cho phù hợp với những biến động của môi trường cạnh tranh trong nước cũng như những yếu tố liên quan đến nước ngoài.

Thứ bảy: cần thành lập các hiệp hội người tiêu dùng với những hoạt động chủ yếu là cung cấp thông tin phục vụ người tiêu dùng và kịp thời phát hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Các hiệp hội này sẽ là đối trọng của các doanh nghiệp khống chế thị trường. Kinh nghiệm các nước cho thấy hoạt động bảo vệ lợi ích người tiêu dùng hỗ trợ rất tốt cho việc duy trì tốt môi trường cạnh tranh lành mạnh. Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và cạnh tranh là 2 vấn đề liên quan mật thiết đến nhau.
Bảo vệ người tiêu dùng và kinh nghiệm quốc tế:

Nhật Bản:

Để bảo vệ người tiêu dùng Nhật đã ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng, yêu cầu của luật cần có “Những biện pháp cần thiết để điều chỉnh những hoạt động hạn chế một cách vô lý tự do cạnh tranh và bình đẳng trong lĩnh vực giá cả hàng hoá và dịch vụ là những điều hết sức quan trọng đối với cuộc sống người dân”. Luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời thể hiện mối quan tâm về cách ứng xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp và mong muốn có một chế độ cạnh tranh tự do lành mạnh. Luật bảo vệ người tiêu dùng còn có những quy định cần có những chỉ dẫn về đặc tính và chất lượng sản phẩm và “Những chỉ dẫn gian dối và gây hậu quả nghiêm trọng phải bị xử lý”. Ngoài luật bảo vệ người tiêu dùng thì các cơ quan cạnh tranh của Nhật Bản cho rằng luật chống độc quyền cũng bảo vệ người tiêu dùng.

Mặc dù vậy, thì việc bảo vệ người tiêu dùng cũng rất yếu về mặt thể chế, ít hiệu lực hơn mức cần thiết đối với cải cách, do không được thể chế hoá giữa việc bảo vệ người tiêu dùng và chính sách cạnh tranh. Thiếu cơ chế điều phối rõ ràng, sự điều phối không có hệ thống giữa các vấn đề về cạnh tranh và người tiêu dùng hay giữa các chính sách này với nhau, không có hỗ trợ chung làm cho việc thực hiện một chương trình cải cách bị bỏ lỡ.
Để tạo điều kiện bảo vệ người tiêu dùng “Hội đồng bảo vẹ người tiêu dùng” ra đời. Nó bao gồm các cơ quan quan tâm đến vấn đề này và ủng hộ thực thi luật chống độc quyền không thiên vị và chặt chẽ, làm cho người tiêu dùng luôn luôn nhận thấy lợi ích của việc có nhiều khả năng lựa chọn hơn, giá cả thấp hơn do cạnh tranh mạnh mẽ và thị trường mở cửa đem lại.

Mỹ:

Mỹ coi việc thực thi luật pháp bảo vệ người tiêu dùng và chống độc quyền là các công cụ bổ sung trong chính sách cạnh tranh của Mỹ nhằm đem lại lợi ích từ cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh của Mỹ thường hướng tới việc đảm bảo sự lựa chọn tự do của người tiêu dùng đối với hàng hoá – dịch vụ trên thị trường. Các luật pháp ngăn cấm các hành vi hạn chế sự lựa chọn của người tiêu dùng, kể cả khi trên thị trường chỉ có một đơn vị cung ứng hàng hoá. Người tiêu dùng ở Mỹ thường ủng hộ việc thực thi luật cạnh tranh và việc thực thi này càng tích cực, càng mạnh mẽ thì người tiêu dùng càng có được nhiều lợi ích hơn.