Các hình thái phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan và từ đặc đIểm kinh tế_ xã hội nước ta,trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập.Đó là vì:

Thứ nhất,nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần,có nhiều hình thức sở hữu khác nhau.

Thứ hai, trong nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều phương thức kinh doanh khác nhau.

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế này, có nhiều chủ thể sản xuất ,kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia. Mỗi thành phần kinh tế có phương thức tổ chức sản xuất- kinh doanh khác nhau.Ngay trong mỗi thời kỳ, kể cả thành phần kinh tế nhà nước cũgn có các phương thức kinh doanh khác nhau, do đó, kết quả và thu nhập là khác nhau.
Hơn nữa,trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các chủ thể sản xuất, kinh doanh tham gia vào nền kinh tế đều có sự khác nhau về sở hữu của cải, tiền vốn, trình độ chuyên môn, tay nghề, năng lực sở trường, thậm chí khác nhau cả may mắn… Do đó, khác nhau về thu nhập.
Vì vậy , không thể có một hình thức phân phối thu nhập thống nhất, trái lại có nhiều hình thức khác nhau.

2.Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định và Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định đIều đó:”Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất- kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội “.

a.Phân phối theo lao động:

Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (kinh tế nhà nước) hoặc các hợp tác xã cổ phần mà phần góp vốn của các thành viên bằng nhau ( kinh tế hợp tác). Các thành phần kinh tế này đều dựa trên chế độ khác nhau. Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất ,nên tất yếu cũng làm chủ phân phối thu nhập.Vì vậy,phân phối phải vì lợi ích của người lao động.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản,tức là chủ nghĩa xã hội cũng chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu và cũng không thể phân phôí bình quân mà chỉ có thể phân phối theo lao động.

Tất yếu phải thực hiện phân phối theo lao động trong các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất là vì:
_ Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, chưa đến mức có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu cầu.Vì phân phối do sản xuất quyết định, cho nên C.mác đã viết:” Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”
_ Sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới việc mỗi người có sự cống hiến khác nhau, do đó phải căn cứ vào lao động đã cống hiến cho xã hội của mỗi người để phân phối.
_Lao động chưa trở thành một nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phương tiện để kiếm sống, là nghĩa vụ và quyền lợi ,hơn nữa còn những tàn dư ý thức, tư tưởng của xã hội cũ để lại như : coi khinh lao động ,ngại lao động chân tay, chây lười, thích làm ít hưởng nhiều,so bì giữa cống hiến và hưởng thụ…

Trong những điều kiện đó , phải phân phối theo lao động để khuyến khích người chăm, người giỏi, giáo dục kẻ lười, người xấu, gắn sự hưởng thụ của mỗi người với sự cống hiến của họ. Đây cũng là hình thức nhằm khắc phục những tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, không chỉ trong thời kỳ quá độ mà cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xác lập, phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu

Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của từng người đã đóng góp cho xã hội. Theo quy luật này, người làm nhiều hưởng nhiều, người làm ít hưởng ít, có sức lao động mà không làm thì không hưởng; lao động có kỹ thuật cao, lao động ở những ngành nghề độc hại trong những điều kiện khó khăn đều được hưởng phần thu nhập thích đáng.

Căn cứ cụ thể để phân phối theo lao động là:
_Số lượng lao động được đo bằng thời gian lao động hoặc số lượng của sản phẩm làm ra.
_ Trình độ thành thạo lao động và chất lượng thành phẩm làm ra
_ Điều kiện và môi trường lao động:

+ Lao động nặng nhọc
+ Lao động trong hầm mỏ
+ Lao động ở những vùng có nhiều khó khăn,x a xôi hẻo lánh như miền núi ,hải đảo ,…
_ Tính chất của lao động
_ Các ngành nghề được khuyến khích

Phân phối theo lao động được thực hiện qua những hình thức cụ thể như:
_ Tiền công trong các đơn vị sản xuất_ Kinh doanh
_ Tiền thưởng
_ Tiền phụ cấp
_ Tiền lương trong các cơ quan hành chính sự nghiệp

Phân phối theo lao động có tác dụng:
_ Thúc đẩy mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm,thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, xây dựng tinh thần và thái độ lao động đúng đắn, khắc phục những tàn dư tư tưởng cũ, củng cố kỷ luật lao động
_ Thúc đẩy mọi người nâng cao trình độ nghề nghiệp,trình độ văn hoá, ổn định lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lao động xã hội
_ Tác động mạnh đến đời sống vật chất và văn hoá của người lao động ,vừa đảm bảo tái sản xuất, sức lao động, vừa tạo mọi điều kiện của người lao động phát triển toàn diện.

Phân phối theo lao động là hợp lý nhất, công bằng nhất so với các hình thức phân phối đã có trong lịch sử. Cơ sở của sự công bằng xã hội của sự phân phối đó là sự bình đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liêụ sản xuất.

Tuy vây, theo C.Mác, phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là sự bình đẳng trong khuôn khổ:” Pháp quyền tư sản”, tức là sự bình đẳng trong xã hội sản xuất hàng hoá theo nguyên tắc trao đổi hoàn toàn ngang giá. Sự bình đẳng ở đây được hiểu theo nghĩa quyền của người sản xuất là tỷ lệ với lao động mà người ấy đã cung cấp; sự bình đẳng đó còn thiếu sót là” với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia”
Phân phối theo lao động còn có những hạn chế nhưng đó là những hạn chế không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ khi nào cùng với sự phát triển toàn diện của cá nhân , năng suất của họ càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào thì khi đó người ta mới có thể vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của cái pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể thực hiện phân phối theo nhu cầu . Chỉ khi đó mới có sự bình đẳng thực sự.

b. Các hình thức phân phối khác:

Ở nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất- kinh doanh. Do đó , ngoài hình thức phân phối theo lao động, trong thời kỳ quá độ còn tồn tại các hình thức phân phối thu nhập khác.Đó là:
_ Trong các đơn vị kinh tế tập thể bậc thấp có sự kết hợp phân phối theo vốn và phân phối theo lao động.
_ Trong thành phần kinh tế cá thể ,tiểu chủ thì thu nhập phụ thuộc vào sở hữu tư liệu sản xuất, vốn đầu tư sản xuất và tài năng sản xuất, kinh doanh của chính những người lao động
_ Trong kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, việc phân phối ở đây dựa trên cơ sở sở hữu vốn cổ phần, sở hữu sức lao động, sở hữu tư bản…

c. Phân phối thông qua phúc lợi tập thể, phúc lợi xã hội:

Để nâng cao mức sống về vật chất và văn hoá của nhân dân đặc biệt là các tầng lớp nhân dân lao động, sự phân phối thu nhập của mọi thành viên ,xã hội còn được thực hiện thông qua quỹ phúc lợi, tập thể và xã hội. Sự phân phối này có ý nghĩa hết sự quan trọng vì nó góp phần :
_ Phát huy tính tích cực lao động của mọi thành viên trong xã hội
_ Nâng cao thêm mức sống toàn dân, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp, đời sống khó khăn làm giảm sự chênh lệch quá đáng về thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng.
_ Giáo dục ý thức cộng đồng, xây dựng chế độ xã hội mới
_ Quỹ phúc lợi tập thể và xã hội là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phân phối thu nhập cho cá nhân trong cộng đồng, song quỹ đó chỉ có ý nghĩa tích cực khi được quy định và sử dụng một cách hợp lý phù hợp với yêu cầu và điều kiện khách quan.
Tính hợp lý của quỹ phúc lợi tập thể và xã hội được biểu hiện như sau:
_Quỹ phúc lợi tập thể, xã hội không thể mở rộng quá khả năng của nền kinh tế cho phép.
_ Tốc độ tăng trưởng thu nhập trực tiếp của cá nhân trong cộng đồng phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng phúc lợi tập thể và xã hội.
_ Trong giới hạn đã xác định, cần sử dụng có hiệu qủa, tiết kiệm ,hợp lý các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội. Việc sử dụng phải nhằm mục đích thiết thực, tránh lãng phí xa hoa, phô trương hình thức. Vì các quỹ này có quan hệ với lợi ích thiết thân của mỗi thành viên tập thể cộng đồng, cho nên cần phát huy đầy đủ dân chủ, trưng cầu ý kiến của quảng đại quần chúng, sao cho mỗi loại phúc lợi đều có thích hợp với nhu cầu bức thiết của quần chúng, phát huy được tác dụng vốn có của nó.
_ Quỹ phúc lợi xã hội là chính sách xã hội cần được giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia đóng góp .

d. Phân phối theo vốn và tài sản:

Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, tương ứng với mỗi thành phần kinh tế có một hình thức phân phối nhất định. Nếu thành phần kinh tế quốc doanh tập thể phân phối theo lao động, thì các thành phần kinh tế khác lại có những hình thức phân phối khác, rất đa dạng, rất khác nhau. Tuy nhiên, điều đó không làm mất tính định hướng xã hội chủ nghĩa bởi chúng ta đảm bảo nguyên tắc lấy phân phối theo lao động làm chính nhưng đồng thời sử dụng các hình thức phân phối khác, miễn là nó phù hợp với tình trạng nền kinh tế của đất nước và thực hiện nó có tác dụng tốt cho sự phát triển kinh tế xã hội cũng như phù hợp với lợi ích người lao động; người lao động bằng lòng chấp nhận nó.
Điều này thể hiện ở hình thức phân phối theo tài sản, vốn, những đóng góp khác…

Đây là hình thức phân phối thích hợp với điều kiện của đất nước ta trong giai đoạn quá độ. Vì do đặc điểm nước ta trong thời kỳ này là đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ. Tình trạng thiếu vốn, phân tán vốn là phổ biến. Quá trình sản xuất, tích tụ, tập trung vốn chưa cao, một phần tương đối lớn vốn lại nằm trong tay người lao động tư hữu nhỏ, tư sản nhỏ…

Để sử dụng nguồn vốn này, chúng ta không thể sử dụng cách chính sách áp đặt như trưng thu, đóng góp cổ phần một cách bình quân. Những biện pháp đó chỉ làm suy yếu lực lượng sản xuất xã hội.

Do đó, từ sau nghị quyết hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung ương (khoá VI), ở nước ta đã xuất hiện các biện pháp huy động vốn dưới những hình thức như vay vốn, góp cổ phần không hạn chế, trả mức lãi hợp lý… Cách làm như vậy đã không những góp phần tăng lượng vốn vào quá trình chu chuyển mà khu vực kinh tế quốc doanh lại được sử dụng nguồn vốn to lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Đồng thời, mặc dù vốn của tư nhân nhưng sử dụng đã mang tính xã hội. Với quan điểm đổi mới này, chúng ta chấp nhận việc phân phối kết quả của sản xuất kinh doanh dưới hình thức “lợi tức” và “lợi nhuận”, và pháp luật bảo vệ những thu nhập hợp pháp đó.