Các hình thức can thiệp vào thị trường nông sản quốc tế

Ngày nay mọi sự can thiệp vào thị trường quốc tế, suy cho cùng, đều được thực hiện bởi các Chính phủ. Tuy nhiên, về hình thức biểu hiện trên thực tế, người ta thường thấy sự can thiệp vào thị trường quốc tế được phổ biến dưới các hình thức cơ bản sau đây:

a-   Sự can thiệp của các tổ chức quốc tế.

Điển hình về sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào thị trường nông sản nói riêng, và thị trường hàng hoá nói chung, trước hết phải kể đến tổ chức thương mại quốc tế WTO. Tiền thân của tổ chức này là hiệp hội chung về thuế quan và mậu dịch GATT, được ra đời vào năm 1947. Năm 1994, kết thúc vòng đàm phán Urugoay các thành viên của GATT đã ký hiệp định về việc thành lập tổ chức thương mại thế giới. WTO là diễn đàn lớn nhất để tiến hành các đàm phán mang tính quốc tế về thương mại. Từ khi ra đời đến nay, WTO đã trải qua nhiều vòng đàm phán: từ Urugoay, Tokyo, đến Washington… tại các vòng đàm phán của WTO, nhiều vấn đề về quan hệ thương mại quốc tế được đưa ra bàn cãi, trong đó có vấn đề về chủ nghĩa bảo hộ trong thương mại nông sản quốc tế. Tranh luận gay gắt giữa nhóm nước thực hiện chủ nghĩa bảo hộ nông nghiệp với nhóm nước chủ trương tự do hoá thương mại quốc tế diễn ra rất dai dẳng. Do vậy, mỗi vòng đàm phán có khi kéo dài 5-7 năm mới có thể tạm thời đi đến một số đồng thuận. Nói chung, mỗi vòng đàm phán dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào sự nhất trí về các vấn đề đưa ra đàm phán tại WTO.

Sự tranh cãi gay gắt về mậu dịch quốc tế nông sản tại WTO chủ yếu diễn ra giữa hai trung tâm kinh tế – thương mại lớn của thế giới: Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu. Nhìn chung, Hoa Kỳ có nhiều lợi thế tuyệt đối trong sản xuất và xuất khẩu nhiều nông sản so với liên minh Châu Âu, nên luôn chủ trương tự do hoá mậu dịch nông sản. Ngược lại, liên minh Châu Âu lại cố duy trì sự bảo hộ đối với nông nghiệp của họ trước sự cạnh tranh quyết liệt của nông sản Hoa Kỳ. Những thành viên còn lại của WTO thực ra ít có vai trò ở mỗi vòng đàm phán. Đa phần các nước trong nhóm này đều phải tìm cách để thích ứng với tình hình quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu.

Kết quả của vòng đàm phán tại Urugoay là một loạt các hiệp định đa phương đã được ký kết, trong đó có hiệp định nông nghiệp. Hiệp định này gồm 21 điều và 5 phụ lục với những thoả thuận cơ bản về mậu dịch nông sản là: đối với các thành viên của WTO không được dùng biện pháp cấm đoán hoặc chế độ hạn ngạch nhập khẩu nông sản từ nước thành viên khác. Thay vào đó, các nước thành viên WTO sử dụng công cụ thuế quan và một phần chính sách trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp thông qua nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, theo xu hướng chung, thuế quan nhập khẩu cũng sẽ phải giảm dần trong quan hệ thương mại giữa các nước thành viên WTO. Song cũng cần thừa nhận một thực tế là, nói chung các nước đều thấy được lợi ích của tự do hoá thương mại và mong muốn tự do hoá thương mại, nhưng mỗi nước đều tìm cách tránh né những ràng buộc của WTO để gia tăng lợi ích riêng. Đối với Việt Nam, sau khi ký được hiệp định thương mại Việt – Mỹ, khả năng trở thành thành viên của WTO đã đến gần. Do vậy, cơ hội để được hưởng ưu đãi như các nước thành viên của WTO cũng đang đến gần. Đồng thời thách thức phải cạnh tranh với nông sản của các thành viên khác ngay trên thị trường nội địa cũng đang tạo ra áp lực nặng nề đối với các doanh nghiệp kinh doanh nông sản của Việt Nam.

Sau tổ chức thương mại thế giới, chương trình giảm thuế quan của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Từ ngày 1/1/2002, sáu thành viên của ASEAN (trừ Việt Nam, Campuchia, Myanma, Lào) đã giảm thuế suất nhập khẩu hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp xuống từ 0-5%. Đây là thời điểm rất quan trọng, vì hầu hết các nước trong ASEAN đã bắt đầu trở thành khu vực mậu dịch tự do. Sáu nước đã thực hiện hiệu lực AFTA, chiếm tới 96% kim ngạch thương mại trong khu vực. Theo AFTA, đến năm 2010, thuế suất nhập khẩu hàng hoá từ các nước thành viên ASEAN sẽ bằng 0 ở sáu quốc gia nói trên, và đến năm 2015 ở bốn quốc gia còn lại.

Cần chú ý rằng, thời hạn bắt đầu có hiệu lực của AFTA được hoạch định ban đầu là vào 2008, sau đó đã quyết định rút ngắn lại, vào năm 2003; sau đó lại được rút ngắn lại nữa, vào năm 2002. Do vậy, rất có thể năm 2006

– thời hạn Việt Nam bắt đầu thực hiện hiệu lực hiệp định AFTA, cũng có thể sẽ được rút ngắn. Tạm thời, từ nay đến 2006, Việt Nam sẽ từng bước giảm thuế suất hàng hoá nhập khẩu từ ASEAN, trong đó có nông sản.

Như vậy, trước mắt Việt Nam có nhiều cơ hội để xuất khẩu nông sản sang 6 nước thành viên của ASEAN, và Việt Nam cũng còn đủ thời gian để từng bước tăng dần sức cạnh tranh của nông sản khi hiệu lực của AFTA bắt đầu ở Việt Nam.

Ngoài các hiệp định có tính chất toàn cầu hoặc khu vực như trên, mà việc thực hiện chúng có ảnh hưởng lớn đến thị trường nông sản quốc tế, còn phải kể đến các tổ chức hiệp hội ngành hàng nông sản như: Tổ chức cà phê quốc tế (ICO); Tổ chức quốc tế về dâu tằm (SIA); tổ chức cao su thiên nhiên quốc tế (INRO)… thành viên của các tổ chức hiệp hội này bao gồm chủ yếu là những nước sản xuất và xuất khẩu. Họ liên minh với nhau nhằm làm chủ về tình hình cung nông sản trên thị trường, từ đó để tránh bị các nước nhập khẩu ép giá. Biện pháp chính mà các tổ chức này đưa ra là chế độ hạn ngạch được phân bổ cho mỗi thành viên. Từ hạn ngạch đó, mỗi thành viên tự điều tiết qui mô sản xuất trong nước mình. Ngoài ra, một số hiệp hội có quĩ để điều tiết lượng cung nông sản, nhờ đó có thể thực hiện thu mua dự trữ khi nông sản bị dư thừa. Tuy vậy, kết quả hoạt động của những tổ chức này thường cũng rất hạn chế, mà nguyên nhân của tình trạng đó thì có thể kể ra khá nhiều.

b-   Sự can thiệp của các Chính phủ vào thị trường nông sản quốc tế.

Sự can thiệp của các Chính phủ vào thị trường nông sản quốc tế có thể khái quát dưới hai hình thức chính: can thiệp dưới hình thức Chính phủ ký các hiệp định thương mại song phương; và các chính sách được thực hiện đơn phương trong phạm vi mỗi quốc gia.

Đối với Việt Nam, hiệp định thương mại song phương quan trọng nhất phải kể đến là Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12/2001. Theo hệ thống biểu suất thuế quan của Mỹ, hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ có thể phải nộp thuế hải quan đến 40%. Riêng với các quốc gia là thành viên của WTO, hoặc chưa là thành viên của WTO nhưng được Mỹ dành cho qui chế tối huệ quốc (MFN), sẽ chỉ phải chịu thuế đến 4%.

Theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ, ngay từ khi hiệp định có hiệu lực – tháng 12/2001, Việt Nam sẽ được hưởng ngay qui chế tối huệ quốc. Tức là, thay vì chịu thuế quan đến 40% khi xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ trong thời gian trước tháng 12/2001, thì nay chỉ phải chịu thuế quan đến 4%. Đến thời điểm năm 2001, theo Bộ Thương mại Việt Nam, nước ta đã xuất khẩu vào Mỹ 42 mặt hàng. So với trước khi hiệp định thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, tổng mức thuế của 42 mặt hàng sẽ giảm từ 35% xuống 4,9%, trong đó có các mặt hàng nông sản và thuỷ sản. Đó là cơ hội mà ngành nông nghiệp và thuỷ sản Việt Nam có được sau khi hiệp định trên có hiệu lực. Đối với nguồn hàng nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ tại Mỹ, theo phần phụ lục của chương 1 trong hiệp định, mức thuế quan và những hạn chế nhập khẩu nông sản sẽ được từng bước giảm dần. Điều đó là phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của tổ chức thương mại thế giới, có tính đến thực tế của Việt Nam đang là nước phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế.

Khi hiệp định thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, đương nhiên là cả hai quốc gia đều có lợi. Tuy nhiên, nếu so sánh mức lợi ích và khả năng tiếp cận được lợi ích do hiệp định đó đưa lại giữa Mỹ và Việt Nam, thì Mỹ có nhiều cơ hội hơn. Vì rằng, để tiếp cận được lợi ích, phía Việt Nam phải vượt qua thách thức là năng suất và đặc biệt là chất lượng sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Mỹ, đối với Việt Nam là thách thức không dễ gì vượt qua. Trong khi đó, khả năng đó của Mỹ đối với Việt Nam thì quá dễ dàng. Cũng từ lý do đó, các sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt ngay trên thị trường nội địa cùng với quá trình giảm thuế nhập khẩu nông sản từ Mỹ về.

Như vậy, bên cạnh cơ hội xuất khẩu nông sản vào Mỹ sẽ phải chịu mức thuế thấp hơn, do vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ, thì ngay tại thị trường nội địa, hàng nông sản của Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn, khi nông sản Mỹ tràn vào. Vì vậy, các doanh nghiệp của Việt Nam cần nhận thức rõ phần thách thức phải vượt qua là rất khó khăn, thách thức lớn hơn cơ hội, để có chiến lược phát triển, có khả năng thích ứng với tình hình mới.

Bên cạnh sự can thiệp ở cấp Chính phủ dưới hình thức hiệp định thương mại song phương, ở những mức độ khác nhau hầu hết các Chính phủ đều thực hiện các biện pháp can thiệp vào thị trường nông sản quốc tế bằng các chính sách kinh tế cụ thể, được thực hiện trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia. Dù các chính sách đó được thực hiện trong phạm vi mỗi quốc gia, song sự tác động của các chính sách đó không chỉ giới hạn trong phạm vi mỗi nước. Mức độ ảnh hưởng của các chính sách kinh tế đó tuỳ thuộc vào cường độ chi phối về cung, cầu nông sản của quốc gia đó trên thị trường quốc tế. Do đó, xét về bản chất, tác động của các chính sách riêng lẻ của các Chính phủ ở mỗi quốc gia cũng không khác nhiều so với tác động của những ràng buộc được thoả thuận trong các hiệp định song phương hoặc đa phương.

Sự can thiệp vào thị trường nông sản quốc tế của các Chính phủ thường được thể hiện ở sự ban hành và thực thi hai nhóm chính sách sau đây:

Trước hết, đó là chính sách thuế quan. Đây là công cụ truyền thống mà các Chính phủ thường sử dụng. Mục đích của chính sách thuế quan khá rõ ràng: tăng thu cho ngân sách của Chính phủ; bảo hộ nền nông nghiệp trong nước; điều hoà cung, cầu nông sản trên thị trường nội địa; điều hoà thu nhập giữa các ngành kinh tế, giữa các doanh nghiệp, giữa các thành viên trong xã hội; và thậm chí là để trả đũa đối tác trong những trường hợp cần thiết.

Tác động của chính sách thuế quan đối với cả xuất khẩu cũng như nhập khẩu, xét về dài hạn và tổng thể, sẽ làm giảm cả cung lẫn cầu nông sản trên thị trường quốc tế, và suy cho cùng là làm giảm lợi ích toàn cầu. Tuy nhiên, trong điều kiện thương mại còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố, thì mỗi quốc gia vẫn cần sử dụng công cụ thuế quan để bảo vệ lợi ích của quốc gia. Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nếu Việt Nam cũng phải hạ thuế suất xuống mức thuế suất hải quan của Mỹ ngay lập tức, thì nền kinh tế yếu ớt của Việt Nam sẽ không thể chịu đựng nổi những tác động nhiều mặt của sự giảm đó. Sự qui định lộ trình từng bước giảm thuế suất hải quan đối với hàng hoá từ Mỹ vào Việt Nam là để đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam không bị “sốc”. Đó là sự công bằng giữa các nền kinh tế có trình độ phát triển không đều trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế.

Thứ hai, đó là các chính sách phi thuế quan, các chính sách thường thấy như: hạn ngạch xuất, nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái, các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, các qui định về kiểm dịch động thực vật…

Mục tiêu của các chính sách phi thuế quan có nhiều, và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà mục tiêu này hay khác được đưa lên hàng đầu. Nhìn chung, các mục tiêu của các chính sách phi thuế quan thường hẹp hơn các mục tiêu của chính sách thuế quan, có thể kể ra đây một số mục tiêu chính: nhằm bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước; khuyến khích xuất khẩu; điều hoà thị trường nội địa…

Tác động của các chính sách phi thuế quan xét về dài hạn và trên bình diện tổng thể cũng sẽ làm giảm lợi ích của nhân loại. Song, cũng giống như khi xem xét chính sách thuế quan, trong hoàn cảnh của thế giới hiện thực, các công cụ phi thuế quan vẫn cần thiết cho công tác quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô ở của quốc gia.