Các hình thức lưu ký chứng khoán

Lưu ký chứng khoán được chia thành 2 hình thức, đó là lưu ký chứng  khoán đóng (lưu ký kín) và lưu giữ chứng khoán mở.

 1. Lưu ký chứng khoán đóng

Đây là hình thức lưu giữ trong đó khách hàng thuê két an toàn của ngân  hàng để lưu giữ và bảo quản chứng khoán của mình.

Thông thường, mỗi ngăn két được ký hiệu theo số riêng và có hai ổ  khoá. Một ổ khoá ngoài do ngân hàng quản lý (ngày nay ổ khoá ngoài được  điều hành tự động từ trung tâm), ổ khoá trong do khách hàng quản lý. ổ khoá trong chỉ có một chìa duy nhất và do khách hàng nắm giữ. Sau khi ký  kết hợp đồng thuê két, khách hàng tự động đưa chứng khoán của mình vào  lưu giữ trong két mà không cần sự hiện diện của người thứ hai, kể cả đại  diện của ngân hàng.

Ngân hàng không có quyền biết những gì liên quan đến chứng khoán  được lưu giữ trong két. Vì vậy, ngân hàng không thể thực hiện được các  nghiệp vụ liên quan đến chứng khoán như thu hộ lợi tức, thực thi các quyền  và nghĩa vụ phát sinh từ chứng khoán. Ngân hàng chỉ có quyền thuê mở  khoá két và tạm giữ chứng khoán trong trường hợp khách hàng không thanh  toán phí thuê két sau một thời hạn quy định trong hợp đồng.

Hình thức lưu ký này về bản chất chỉ là sự lưu giữ, bảo quản chứng  khoán cho khách hàng. Trong hình thức này, tổ chức lưu giữ chỉ chịu trách  nhiệm bảo hiểm tài sản ký gửi theo một hạn mức nhất định. Một khi giá trị  chứng khoán ký gửi của khách hàng trên hạn mức này vẫn còn tồn tại thì  khách hàng phải thông báo cho tổ chức lưu ký và tổ chức này sẽ thực hiện  chức năng “đại lý hợp đồng bảo hiểm chứng khoán” phục vụ khách hàng  lưu ký.

2. Lưu ký mở

Đây là hình thức lưu giữ chứng khoán trong đó chứng khoán được trao  cho tổ chức lưu giữ và tổ chức này không chỉ thực hiện chức năng bảo quản  mà còn thực hiện cả chức năng điều hành chứng khoán theo sự uỷ thác của  khách hàng.  Căn cứ vào trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức lưu ký trong việc điều  hành chứng khoán, lưu ký mở được chia thành:

–  Lưu ký biệt lập

– Lưu ký tổng hợp;

– Lưu ký tại tổ chức thứ ba:;

– Lưu ký thế chấp;

– Lưu ký phong toả;

a. Lưu ký biệt lập:

đây là hoạt động lưu ký chứng khoán trong đó chứng  khoán của khách hàng độc lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký. Tổ chức  lưu ký có trách nhiệm lưu giữ chứng khoán theo các ký hiệu riêng được lập  cho từng khách hàng, theo từng chủng loại chứng khoán và phải cất giữ  chứng khoán biệt lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký cũng như của các  khách hàng lưu ký khác.

Khi ngân hàng mua hộ chứng khoán cho các khách hàng và đưa vào  lưu ký biệt lập theo hợp đồng mua bán với khách hàng thì trong một tuần  ngân hàng phải gửi cho khách hàng bản danh mục chứng khoán đã mua và  đã đưa vào lưu ký, trong đó phải ghi rõ chủng loại, mã số giá trị tính theo  mệnh giá và các đặc tính khác (nếu có) của chứng khoán được mua. Bản  thông báo ký hiệu mã số chứng khoán được coi là bằng chứng về việc quyền  sở hữu chứng khoán đã được trao cho người mua.

Khi trong hợp đồng lưu ký không có quy định về hình thức lưu ký  khác thì đương nhiên được coi là lưu ký biệt lập cho dù điều đó không được  thể hiện trong hợp đồng.

Tổ chức nhận lưu ký cũng được phép đưa chứng khoán của khách  hàng lưu ký biệt lập tại một tổ chức thứ ba (thường là các trung tâm lưu ký  chứng khoán lớn) mà không cần phải có văn bản uỷ quyền của khách hàng.  Khi đó tổ chức nhận lưu ký được coi là tổ chức trung gian lưu ký.

Nghiệp vụ lưu ký biệt lập bao gồm nhiều công đoạn phức tạp nên chi  phí lưu ký rất cao.

a. Lưu ký hoán đổi:

Đây là hình thức lưu ký trong đó cho phép tổ chức lưu ký chuyển trả  cho khách hàng của mình số chứng khoán cùng chủng loại chứ không nhất  thiết phải cùng mã số.

Khác với lưu ký biệt lập, ở hình thức lưu ký hoán đổi, mỗi một giao  dịch lưu ký (tức mỗi đợt lưu ký) cần phải lập một hợp đồng lưu ký riêng và  quy định rõ hình thức lưu ký hoán đổi.

Quyền sở hữu của chủ lưu ký hoán đổi cũng khá phức tạp. Cụ thể: trước  khi hoán đổi thì chủ lưu ký là chủ sở hữu của số chứng khoán được lưu ký  còn sau hoán đổi thì lại là chủ sở hữu của số chứng khoán thay thế.

Lưu ký hoán đổi được xem là bước đệm hình thành nên lưu ký tổng  hợp.

b. Lưu ký tổng hợp:

Lưu ký tổng hợp là hình thức lưu ký trong đó tổ chức lưu ký được phép  tập hợp chung tất cả các loại lưu ký được phép chuyển nhượng tự do thuộc  vùng chuyển khoản của nhiều chủ sở hữu thành một khối lượng tổng hợp.

Khi chuyển chứng khoán vào lưu ký tổng hợp, các chủ sở hữu trở thành  các đồng sở hữu phần lưu ký trong khối lượng chứng khoán tổng hợp của  cùng chủng loại chứng khoán mà mình lưu ký.

Nhưvậy, từng chủ sở hữu không có quyền đòi hỏi tổ chức lưu ký  chuyển trả chính các tờ chứng khoán của mình, chỉ có quyền đòi chuyển trả  số lượng tờ chứng khoán đã đưa vào lưu ký hay số lượng với giá trị tính theo  mệnh giá. Nếu tổ chức lưu ký bị phá sản thì các chủ lưu ký được hưởng đặc  quyền truy đòi tài sản của mình.

Chuyển khoản chỉ được phép đưa vào lưu ký tổng hợp khi có văn bản uỷ  quyền cụ thể của khách hàng lưu ký.

Lưu ký tổng hợp được phân chia thành: lưu ký nội ngân hàng và lưu ký  tại trung tâm thanh toán bù trừ.

-Lưu ký nội ngân hàng là việc lưu giữ chứng khoán tại trụ sở của ngân  hàng lưu ký.

-Lưu ký tại trung tâm thanh toán bù trừ chứng khoán là việc lưu giữ  khối lượng chứng khoán tổng hợp của ngân hàng lưu ký tại trung tâm. Trong  giao dịch này, khách hàng lưu ký chỉ cần lập một lần duy nhất hợp đồng  tổng hợp và tất cả các đợt lưu ký tổng hợp của khách hàng đều được tự động  đưa vào lưu ký tại Ngân hàng lưu ký này.

Lưu ký tổng hợp có ưu điểm:

-Khách hàng không phải tốn nhiều chi phí giao dịch và chi phí lưu ký  do áp dụng hình thức chuyển khoản chứng khoán mà không cần chuyển  chứng khoán về mặt cơ học.

-Khách hàng lưu ký chỉ cần lập một lần hợp đồng uỷ thác lưu ký tổng  hợp tại trung tâm thanh toán bù trừ nên thủ tục đơn giản và tạo cho khách  hàng khả năng thực hiện các giao dịch chứng khoán mà không cần trực tiếp  tới tổ chức nhận lưu ký.

d. Lưu ký tại tổ chức thứ 3:

Là hình thức lưu ký trong đó các tổ chức lưu ký có quyền đứng tên tổ  chức mình đưa chứng khoán của khách hàng vào lưu ký tại tổ chức lưu ký  khác (tổ chức thứ 3) theo phương thức lưu ký biệt lập hay lưu ký tổng hợp  mà không cần phải có văn bản uỷ quyền cụ thể của khách hàng lưu ký.

Về mặt bản chất đó là việc tái lưu ký chứng khoán của thành viên.

 

Hình thức này thường được áp dụng:  

-Đối với chứng khoán thuộc khối lượng chứng khoán tổng hợp tại một  ngân hàng lưu ký.

– Khi tổ chức trung gian lưu ký không có đủ hệ thống két an toàn lưu  giữ.

-Khi muốn lưu trữ chứng khoán tại địa điểm gần các SGDCK.

Nếu theo phương thức lưu ký tổng hợp:

-Khi chuyển chứng khoán vào lưu ký tổng hợp, tổ chức trung gian lưu  ký phải thông báo rõ cho tổ chức thứ ba về việc chứng khoán của tổ chức  trung gian lưu ký hay của khách hàng. Nếu không có thông báo thì mặc  nhiên công nhận số chứng khoán đó thuộc quyền sở hữu khách hàng của tổ  chức trung gian lưu ký.

– Tổ chức lưu ký có trách nhiệm lập tài khoản cho một tổ chức trung  gian lưu ký. Đó là:

+) Tài khoản lưu ký A:tài khoản chứng khoán của tổ chức trung gian  lưu ký.

+) Tài khoản lưu ký B:tài khoản chứng khoán cho khách hàng.

Mỗi khi điều hành chứng khoán trên tài khoản lưu ký B, tổ chức  trung gian lưu ký phải gửi bản minh chứng điều hành chứng khoán trên tài  khoản lưu ký B theo lệnh của khách hàng. Khi điều hành chứng khoán trên  tài khoản lưu ký A, tổ chức trung gian lưu ký phải gửi văn bản thông báo rõ  chứng khoán thuộc sở hữu của chính tổ chức lưu ký.

Tổ chức lưu ký thứ ba chỉ được phép phong toả chứng khoán của khách  hàng thuộc tổ chức trung gian lưu ký khi phát sinh các khoản phải thu liên  quan đến chứng khoán trên các tài khoản nay nhưcác khoản phí lưu ký chưa  được thanh toán.

Tổ chức lưu ký chỉ được phép thế chấp chứng khoán của khách hàng  được lưu ký tại tổ chức lưu ký thứ ba trong các trường hợp:

-Khi tổ chức trung gian lưu ký cấp tín dụng cho khách hàng lưu ký và  được thế chấp bằng chứng khoán được đưa vào lưu ký tổng hợp tại tổ chức  này.

– Khách hàng lưu ký có văn bản uỷ quyền cho tổ chức trung gian lưu ký  tại tài khoản chứng khoán của mình khi tổ chức này có nhu cầu tái cấp vốn  từ tổ chức lưu ký thứ ba.

e. Lưu ký thế chấp của khách hàng:  

Đây là hình thức lưu ký trong đó chứng khoán hiện đang lưu ký trên tài  khoản chứng khoán của khách hàng được tổ chức trung gian lưu ký đem thế  chấp cho đối tác thứ ba (chủ nợ) để vay vốn. Khi đó, tổ chức lưu ký phải  đóng dấu thế chấp kèm họ tên (tên hiệu) của người chủ nợ (mà chứng khoán  được thế chấp cho người chủ nợ này) tại các phần chứng khoán được thế  chấp trên tài khoản lưu ký khách hàng.  Việc chuyển quyền sở hữu các chứng khoán được thế chấp có thể được  thực hiện như sau:

-Tách chứng khoán khỏi tài khoản lưu ký khi có lệnh yêu cầu chuyển  giao chứng khoán.

-Thông qua một hợp đồng giữa tổ chức tín dụng (tổ chức lưu ký) và  khách hàng lưu ký (người thế chấp) tạo quyền đồng sở hữu trực tiếp số  chứng khoán được thế chấp. Trong trường hợp này, việc chuyển giao chứng  khoán chỉ được thực hiện theo cách chuyển giao đồng thời cho người lưu ký  và chủ nợ.

f. Lưu ký phong toả:

Lưu ký phong toả là hình thức lưu ký trong đó người chủ sở hữu sẽ  không được sử dụng phần tài sản thuộc tài khoản lưu ký phong toả, số chứng  khoán này chỉ có mục đích là để đảm bảo an toàn cho chủ sở hữu hay các  khách hàng của chủ sở hữu trong các trường hợp sau:

-Các tổ chức bảo hiểm đối với số vốn dự phòng bắt buộc theo luật định  của các tổ chức này.

– Các công ty đầu tưvốn đối với các tài sản quỹ thuộc diện khống chế  sử dụng (điều hành) theo quy định trong điều lệ quỹ.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • cac hinh thuc lưu ký chứng khoán
  • ,