Các hình thức sở hữu trí tuệ

Các hình thức sở hữu trí tuệ
Đánh giá bài viết

 

Bằng sáng chế cung cấp cho nhà phát minh quyền ngăn không cho người khác sử dụng, bán hay nhập khẩu phát minh đó trong một khoảng thời gian cố định – thông thường lên tới 20 năm.4 Bằng sáng chế được trao cho bất kỳ doanh nghiệp hay cá nhân nào có những phát minh hoặc phát hiện mới và hữu ích về các quy trình, thiết bị, sản phẩm chế tạo, hay bất kỳ cải tiến mới và hữu ích nào cho các sản phẩm này. Thương hiệu là những thiết kế, biểu tượng, lôgô, từ hay một cum từ trên nhãn mác sản phẩm nhằm phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm khác. Nó giúp ta xác định các sản phẩm hoặc dịch vụ đến từ cùng một nguồn và có  cùng một mức độ chất lượng. Những thương hiệu được nhiều người biết đến là hai chữ viết tắt “BP” của hãng British Petroleum, chữ cái có hình mái khung vòm màu vàng của hãng McDolnald‟s, và biểu tượng dấu ngoắc phẩy của hãng Nike‟s. Bản quyền bảo vệ quyền tác giả của những tác phẩm gốc, cho phép người sáng tạo ra chúng có độc quyền để tái sản xuất tác phẩm, trưng bày và thể hiện chúng trước công chúng và uỷ quyền cho người khác thực hiện các hoạt động này. Bản quyền được áp dụng cho các tác phẩm trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật, phim truyện và phần mềm máy tính.

Thiết kế công nghiệp là kiểu dáng hay đặc trưng của một sản phẩm. Mục đích của thiết kế là để cải tiến tính thẩm Hoa Kỳ hay độ khả dụng của một sản phẩm nhằm nâng cao năng suất, sự thể hiện và khả năng tiêu thụ. Chiếc máy Ipod Apple in hình lôgô công ty chính là một thiết kế công nghiệp được nhiều người  biết  đến. Bí mật thương mại là những bí quyết công nghệ hay thông tin bí mật có giá trị thương mại.5

Bí mật thương mại bao gồm các thông tin như phương pháp sản xuất, kế hoạch kinh doanh và danh sách khách hàng. Ví dụ, công thức sản xuất Coca-cola là một bí mật thương mại. Nhãn hiệu tập thể là lôgô của một hiệp hội hoặc một nhóm, trong đó các thành viên đều có quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm đồng nhất nguồn gốc của các sản phẩm hay dịch vụ của mình. Thông thường, các thành viên sử dụng nhãn hiệu tập thể để đồng nhất hoá chính công ty và các sản phẩm của mình theo cùng một mức chất lượng, tiêu chuẩn, nguồn gốc địa lý hay các đặc điểm khác do tổ chức đó đặt ra. Ví dụ, DIN là một nhãn hiệu tập thể của Viện tiêu chuẩn Cộng hoà liên bang Đức, thường được tìm thấy trên các thiết bị gia dụng tại Châu Âu.

Quyền sở hữu trí tuệ (IPRs) là một quyền pháp lý theo đó tài sản thuộc quyền sở hữu của một doanh nghiệp hay cá nhân được bảo vệ chống lại những sử dụng trái phép của các bên khác. Tính hiệu lực và cưỡng chế của các quyền này ở các quốc gia là khác nhau. Nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ là tạo cho người phát minh một lợi thế độc quyền trong một khoảng thời gian nhất định để họ có có thể khai thác phát minh của mình và tạo ra lợi thế thương mại. Những quyền pháp lý này cho phép người phát minh không chỉ thu hồi lại được chi phí đầu tư ban đầu mà còn giành được sức mạnh và sự thống trị trên các thị trường trong một số năm nhất định, khi người phát minh không phải đối mặt với những cạnh tranh trực tiếp từ những đối thủ sản xuất sản phẩm cùng loại. Nếu không có sự bảo vệ pháp lý và những phần thưởng khích lệ mang tính thương mại thì hầu hết các doanh nghiệp và cá nhân sẽ không mấy mặn mà trong việc sáng tạo ra các phát mình mới.

Cấp phép

Một thoả thuận cấp phép sẽ xác định bản chất mối quan hệ giữa bên cấp phép (chủ sở hữu trí tuệ) và bên nhận phép (người sử dụng). Các doanh nghiệp trong ngành công nghệ cao thường cấp phép sử dụng bằng sáng chế và bí quyết thương mại của họ cho các công ty nước ngoài. Ví dụ, hãng Intel cấp phép sử dụng một quy trình sản xuất chíp máy tính mới cho một công ty chuyên sản xuất chip điện tử ở Đức. Như đã đề cập trong bài minh hoạ mở đầu, hãng Warner cấp phép sử dụng các hình ảnh trong bộ truyện và phim Harry Potter cho nhiều công ty trên toàn thế giới. Hãng Disney cấp phép cho các công ty may mặc tại Hồng Kông sử dụng những nhân vật hoạt hình của họ để sản xuất áo và mũ. Hãng Disney cũng cấp phép sử dụng thương hiệu và lôgô của mình cho một số nhà sản xuất phục trang, đồ chơi và đồng hồ đeo tay toàn cầu. Việc cấp phép này cho phép hãng Disney liên kết với nhiều đối tác nước ngoài, những người có khả năng thích nghi hóa vật liệu, màu sắc và những yếu tố thiết kế khác để phù hợp với thị hiếu tiêu dùng ở nước họ. Việc cấp phép cũng tạo điều kiện cho bên nhận phép sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm tương tự những sản phẩm đã được sản xuất tại nước của bên cấp phép. Bằng việc gắn tên mình với những thương hiệu nổi tiếng như Disney, bên nhận phép có thể thu về một lượng doanh thu khổng lồ.

Hình sau thể hiện bản chất của một thỏa thuận cấp phép giữa người cấp phép và người nhận phép.  Bằng việc ký tên vào một hợp đồng cấp phép, người nhận phép sẽ phải trả cho người cấp phép một khoản tiền cố định ban đầu và tiếp đó là một khoản tiền bản quyền hàng kỳ với giá trị thông thường là 2 đến 5 phần trăm của tổng doanh thu thu được từ việc sử dụng tài sản cấp phép. Khoản tiền cố định sẽ trang trải những phí tổn ban đầu của người cấp phép cho việc chuyển giao tài sản cấp phép cho người nhận phép, bao gồm chi phí tư vấn, chi phí tập huấn cách sử dụng tài sản, chi phí lắp đặt hay thích ứng với môi trường. Tuy nhiên, một số tài sản cấp phép như bản quyền hay thương hiệu có chi phí chuyển giao thấp hơn nhiều.

Hình 5.4 Cấp phép – một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài

Nguồn: Welch and Welch (1996)

Hợp đồng cấp phép thường có giá trị từ 5 đến 7 năm và có thể làm mới lại tuỳ theo các bên. Mặc dù bên cấp phép thường phải cung cấp các thông tin kỹ thuật và giúp đỡ cho bên nhận phép nhưng một khi mối quan hệ đã được thiết lập và bên nhận phép đã hoàn toàn thông hiểu vai trò của mình thì vai trò còn lại của bên cấp phép là rất ít hay gần như không có. Bên cấp phép chỉ đóng vai trò tư vấn nhưng không tham gia trực tiếp vào thị trường và không cung cấp bất cứ hướng dẫn mang tính quản lý nào. Hầu hết các doanh nghiệp đều ký kết các thỏa thuận độc quyền, theo đó người nhận phép không được phép chia sẻ tài sản cấp phép với bất kỳ công ty nào khác trong một phạm vi quy định. Bên cạnh hoạt động ở thị trường trong nước, bên nhận phép có thể được phép xuất khẩu tới các nước thứ ba.

Nếu bên cấp phép là một công ty đa quốc gia, nó có thể ký kết một thoả thuận cấp phép với một chi nhánh nước ngoài mà nó sở hữu một phần hay toàn bộ. Trong trường hợp này, cấp phép là một biện pháp hiệu quả để trả phí cho chi nhánh ở nước ngoài và chuyển giao sở hữu trí tuệ cho bên này trong một khung pháp lý chính thức. Thông thường doanh nghiệp sử dụng hình thức cấp phép này khi chi nhánh ở nước ngoài là một pháp nhân độc lập, đây là một kịch bản khá phổ biến ở nhiều quốc gia. Các công ty đa quốc gia thường sử dụng cấp phép làm phương pháp đi đầu nhằm bù đắp hay chuyển giao sở hữu trí tuệ cho các chi nhánh của mình ở nước ngoài. Một số doanh nghiệp coi cấp phép là một biện pháp hỗ trợ cho các phương thức gia nhập thị trường khác như xuất khẩu hay đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Trong ngành thời trang, các hãng có thương hiệu nổi tiếng như Bill Blass, Hugo Boss và Pierre  Cardin  thường thu được một lượng doanh thu khổng lồ nhờ những thương vụ cấp phép quần jeans, nước hoa và đồng hồ đeo tay. Saks Inc, cửa hàng bách hóa cao cấp nước ngoài đầu tiên tại Trung Quốc đã đặt chân vào nước này bằng cách cho phép một cửa hàng bách hóa chủ chốt ở Thượng Hải được đặt tên theo cái tên Saks Fifth Avenue của nó. Saks thu được doanh thu từ thỏa thuận cấp phép và kiểm soát những mặt hàng nào được bày bán tại đó, nhưng ngoài ra thì không tham gia vào bất cứ một hoạt động nào khác. Phương thức cấp phép đã giúp cho Saks Fifth Avenue được nhiều người dân Châu Á biết đến hơn mà không cần Saks phải tự mở một cửa hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro.

Nguồn gốc quốc gia của một số nhãn hiểu nổi tiếng có thể sẽ làm chúng ta phải ngạc nhiên. Trong ngành công nghiệp thực phẩm, hai cái tên Peter Paul Mounds và Almond Joy vốn thuộc sở hữu của hãng thực phẩm Anh Cadbury Schweppes và được sản xuất tại Hoa Kỳ thông qua một thoả thuận cấp phép với công ty Hershey Foods. Các nhãn hiệu Planters, Sunkist và Budweiser đều thuộc quyền sở hữu của các công ty Hoa Kỳ và được bày bán tại Anh, Nhật và Singpapore thông qua thoả thuận cấp phép với các công ty địa phương. Hãng Coca-cola ký một thoả thuận cấp phép phân phối nước đóng chai Evian tại Hoa Kỳ nhằm đại diện cho chủ sở hữu của nhãn hiệu này là công ty Danone của Pháp. Trên thực tế, một bản tóm tắt các báo cáo hàng năm của 120 công ty trong số những công ty thực phẩm đa quốc gia lớn nhất đã cho thấy ít nhất một nửa trong số các công ty này đang tham gia vào nhiều loại hình cấp phép sản phẩm quốc tế.

Có hai dạng thoả thuận cấp phép: (1) cấp phép thương hiệu và bản quyền và (2) cấp phép bí quyết kinh doanh. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết từng phương pháp này.

Cấp phép thương hiệu và bản quyền

Cấp phép thương hiệu là việc một doanh nghiệp cho phép một doanh nghiệp khác sử dụng tên gọi, chữ viết hay lôgô vốn đã được độc quyền đăng ký trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đổi lấy tiền bản quyền. Thương hiệu thường xuất hiện trên những sản phẩm như quần áo, trò chơi, thực phẩm, đồ uống, quà tặng, đồ trang trí, đồ chơi và nội thất gia đình. Các tổ chức hay cá nhân thu lợi nhiều từ việc cấp phép thương hiệu là Coca Cola, Harley-Davidson, Laura Ashley, Disney, Micheal Jordan  và  thậm chí là  cả  trường đại học yêu  thích  của bạn nữa!  Hãng Playboy Enterprises đã cấp phép thành công cho các nhà sản xuất đồ may mặc tại nhiểu quốc gia để sử dụng lôgô và các tài sản marketing khác của mình. Như đã đề cập trong ví dụ ban đầu, một thương hiệu nổi tiếng như Harry Potter đã đem lại hàng triệu đô la cho chủ sở hữu của nó mà không cần mấy nỗ lực. Các công ty Hoa Kỳ thu lợi nhiều từ việc cấp phép thương hiệu có doanh thu hàng năm đạt trên 100 tỷ đôla.

Tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, các doanh nghiệp giành được quyền sở hữu một thương hiệu thông qua việc sử dụng thương hiệu đó đầu tiên và trong một khoảng thời gian liên tục. Tuy nhiên ở các quốc gia khác thì quyền có thương hiệu lại chỉ giành được thông qua việc đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền và nhiều nước yêu cầu doanh nghiệp muốn duy trì việc đăng ký thì phải sử dụng trong nước nhãn hiệu được bảo hộ đó. Khi một doanh nghiệp đăng ký thương hiệu có nghĩa là nó đã chính thức thông báo cho các cơ quan chức năng biết nó sở hữu thương hiệu đó và có quyền hưởng sự bảo vệ sở hữu trí tuệ. Tập quán giành được quyền sở hữu thương hiệu chỉ đơn giản bằng cách đăng ký như vậy đã làm cho không ít doanh nghiệp phải lo lắng. Ví dụ, khi lên kế hoạch gia nhập thị trường Nam Phi năm 1993, McDonald‟s đã vô cũng thất vọng khi biết rằng một doanh nhân địa phương đã đăng kí thương hiệu McDonald‟s nhằm phục vụ lợi ích của chính ông này và có quyền công ty để thu hồi thương hiệu. Khi McDonald kháng nghị lên toà án nhằm đòi quyền sở hữu, toà án tối cao nam Phi đã xử phần thắng nghiêng về doanh nghiệp trong nước.

Winnie the Pooh là một trong những câu chuyện thành công nhất về cấp phép thương hiệu. Được xây dựng từ một nhân vật văn học dành cho trẻ con năm 1926, chú gấu Pooh đã trở thành món tài sản cấp phép mang lại hàng tỷ đôla. Được Disney giành được vào năm 1961, chú gấu Pooh trở thành nhân vật hư cấu có thu nhập cao thứ hai của mọi thời đại, chỉ sau chú chuột Mickey. Hình ảnh chú gấu Pooh được cấp phép cho rất nhiều hãng sản xuất với một loạt các sản phẩm, từ sản phẩm trẻ em, hàng dệt may cho đến các dụng cụ làm vườn. Chỉ tinh riêng tại Châu Âu đã có khoảng 1000 công ty nhận phép gấu Pooh.

Tại nhiều quốc gia, bản quyền đem lại độc quyền cho chủ sở hữu để tái sản xuất tác phẩm, chuẩn bị cho các sản phẩm phái sinh, phân phối các bản sao và trình bày tác phẩm trước công chúng. Các tác phẩm nguyên gốc bao gồm Hoa Kỳ thuật, âm nhạc, văn học và phần mềm máy tính. Thời gian bảo vệ bản quyền thay đổi theo từng nước nhưng khoảng thời gian thông thường thường được tính là tuổi đời của tác giả cộng thêm 50 năm nữa. Tuy nhiên, vì nhiều  nước không có hoặc có ít luật về bảo vệ bản quyền nên trước khi xuất bản một tác phẩm ra nước ngoài, ta nên điều tra kỹ luật bản quyền của nước đó.

Cấp phép bí quyết kinh doanh

Tiếp cận công nghệ là một nguyên tắc quan trọng trong cấp phép. Một thoả thuận cấp phép bí quyết  kinh doanh là một hợp đồng, trong đó doanh nghiệp chủ cung cấp các kiến thức kỹ thuật hay kiến thức quản lý về việc thiết kế, chế tạo hay vận chuyển một sản phẩm hoặc dịch vụ. Người cấp phép sẵn sàng cung cấp các loại bằng sáng chế, bí mật thương mại và các bí quyết kinh doanh khác cho người nhận phép để đổi lấy  tiền bản quyền. Tiền bản quyền có thể là một khoản tiền mặt trả gọn, một khoản tiền bản quyền hàng kỳ dựa trên số lượng sản phẩm sản xuất nhờ bí quyết kinh doanh, hay cả hai.

Trong một số ngành công nghiệp như dược phẩm, hoá phẩm và chất bán dẫn, công nghệ là một nhân tố cần thiết trong các thoả thuận cấp phép mang tính đôi bên cùng có lợi giữa các doanh nghiệp trong  cùng một ngành hoặc các ngành tương tự nhau. Hình thức này được gọi là cấp phép chéo. Ở các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật nhanh như vũ bão và là nơi các tiến bộ khoa học chịu sự phụ thuộc lẫn nhau thì cấp phép công nghệ từ các đối thủ lại trở thành lợi thế then chốt. Nó giúp giảm bớt chi phí cải tiến vì tránh được việc trùng lặp các nghiên cứu, đồng thời giảm độ rủi ro cho việc một doanh nghiệp nào đó có thể không tiếp cận được với những công nghệ mới.

Ví dụ, hãng AT&T đã từng một thời nắm giữ các loại bằng sáng chế chủ chốt trong ngành công nghiệp bán dẫn. Khi ngày càng nhiều công ty tham gia ngành này và tốc độ nghiên cứu và phát triển sản phẩm ngày càng tăng, AT&T đứng trước nguy cơ bị vượt mặt bởi rất nhiều đối thủ. Tại Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ, hàng ngàn bằng sáng chế về chất bán dẫn đã được trao tặng. Tồn tại trong một mạng lưới vô số các loại bằng sáng chế như vậy, bất kỳ công ty nào cũng không thể hoạt động trong ngành mà không cấp và nhận phép từ các đối thủ. Do đó, AT&T, Intel, Siemens và rất nhiều các đối thủ khác bắt đầu cấp phép bằng sáng chế của mình cho các công ty còn lại. Các hoạt động cấp phép chung của những công ty này đã góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của cả ngành bán dẫn.

Một kịch bản tương tự cũng diễn ra trong ngành dược phẩm. Chi phí để nghiên cứu và phát triển một loại thuốc mới có thể lên tới hàng trăm triệu đôla và việc phát triển những loại thuốc mới đòi hỏi vô số các quy trình và thủ tục chấp nhận tốn rất nhiều thời gian từ phía chính phủ, trong khi các hãng dược phẩm lại muốn tung ra các phát minh của mình càng sớm càng tốt. Để giảm thiểu chi phí và đẩy nhanh tốc độ phát triển các loại thuốc mới, các hãng dược phải cấp phép các phát minh của mình cho những hãng khác. Trong các ngành khác, các công ty có thể cấp phép công nghệ và bí quyết kinh doanh của mình cho các đối thủ nhằm mục đích bổ sung vào vốn kiến thức chưa đầy đủ của mình, lấp chỗ trống các dòng sản phẩm hay tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mới mẻ. Việc giành được thành tựu khoa học kỹ thuật từ các công ty khác thông qua hình thức cấp phép hiệu quả hơn rất nhiều so với việc đầu tư một lượng tiền khổng lồ cho nghiên cứu và phát triển. Thông thường người  ta đều hiểu rằng để đổi lại việc một công ty thu được một công nghệ nhờ hình thức này, công ty đó sẽ phải cấp phép một số công nghệ khác của mình cho công ty kia.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • Anh chị hiểu thế nào là chuển giao SHTT và hình thức chuển giao
  • ,