Các hình thức thu hút FDI ở Việt Nam

Hiện nay FDI vào Viêt Nam được thực hiện qua các hình thức đầu tư sau đây:
– Doanh nghiệp liên doanh
– Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
– Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
– Các phương thức đầu tư BOT, BTO, BT.

Thời gian qua, doanh nghiệp liên doanh là hình thức chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây, hình thức này đang có xu hướng giảm bớt về tỉ trọng. Nếu năm1995, doanh nghiệp liên doanh chiếm 84% số vốn đầu tư thì năm 1997 chỉ còn 70%số vốn đầu tư và 61% số dự án.
Trong khi đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên về tỉ trọng. Thời kỳ 1988 đến 1991, hình thức này chiếm 6% vốn đầu tư, nhưng đến cuối năm 1997 chiếm tới 20% số vốn đầu tư với 30% số dự án.Đến năm 2001 có tới 55,5% số dự án và 29,4% vốn đăng ký( đến hết năm 2000, có 1459 dự án 100% vốn nước ngoài,còn hiệu lực với 10,7 tỷ USD vốn đăng ký).

Tính đến hết năm 1997, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 7,1% số dự án và 10%số vốn đầu tư.

Tới năm 1998, chúng ta mới thu hút được 4 dự án đầu tư theo hình thức BOT (xây dựng – chuyển giao). Các dự án đầu tư theo hình thức BOT là: Dự án nhà máy xử lý và cung cấp nước sạch Thủ Đức ở Thành Phố Hồ Chí Minh; dự án cảng quốc tế Bến Bình – Sao Mai (Vũng Tàu); dự máy điện Wartsila Bà Rịa – Vũng Tàu; dự án nhà máy nước Bình An.Đến năm 2001 đã có 6 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép theo hình tức này với số vốn đăng ký hơn 1300 triệu USD. Trong đó, có một dự án (Cảng quốc tế Vũng Tàu )đã rut giấy phép đầu tư. Hình thức này có đặc điểm là: phần lớn các dự án có phạm vi áp dụng không rộng , điều kiện thực hiện phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quiet những vấn đề phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm phán,ký kết hợp đồng, hợp đồng mua bán sản phẩm,phương án tài chính, thực hiện giải phóng mặt bằng…Không những thế ,đây lại là hình thức mới,phía Việt Nam còn ít kinh nghiệm nên tiến đô triển khai dự án thuộc hình thức này tường chậm hơn các hình thức khác.

Xu hướng này phản ánh trạng thái của các nhà đầu tư nước ngoài muốn được tự chủ trong điều hành doanh nghiệp, không bị phụ thuộc vào ý kiến đối tác nước chủ nhà, đồng thời vẫn tận dụng được lao động rẻ, tài nguyên phong phú và chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Điều này cũng nói lên yếu kém của Việt Nam, hợp tác không có hiệu quả với phía đối tác nước ngoài. Nhiều trường hợp, phía đối tác nước ngoài cảm thấy phiền hà, rắc rối muốn thoát khỏi nhanh chóng sự quản lý của ta là “lấy hình thức liên doanh là chủ yếu”để có cơ hội tiếp thu tiến bộ công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của cán bộ quản lý, nâng cao tay nghề của người lao động.