Các hình thức tổ chức sử dụng, khai thác hệ thống thuỷ nông

Các hình thức tổ chức sử dụng, khai thác hệ thống thuỷ nông
Đánh giá bài viết

– Các hình thức tổ chức quản lý sử dụng hệ thống thuỷ nông của Nhà nước bao gồm: Doanh nghiệp khai thác thuỷ lợi (theo hình thức công ty), xí nghiệp hoặc Ban quản lý thuỷ nông.

Hoạt động dịch vụ thuỷ lợi của các công ty, doanh nghiệp khai thác thuỷ nông có thể có các mô hình chủ yếu sau:

+ Hạch toán chưa đầy đủ, theo dạng cân đối thu chi hàng năm, Nhà nước cấp bù kinh phí chi theo dự toán các hạng mục kinh phí được cấp bù. Mô hình này được áp dụng cho hầu hết các đơn vị quản lý khai thác thuỷ lợi vừa và nhỏ.

+ Sự nghiệp dịch vụ thuỷ lợi có thu nhưng số thu nhỏ chỉ 10-20% số cần chi. Hàng năm doanh nghiệp lập tổng dự toán chi phí và dự kiến phần thu, cuối năm quyết toán dựa vào số thực chi và thực thu.

Hoạt động của các ban quản lý hoặc một số xí nghiệp thuỷ lợi khác theo các mô hình:

+ Sự nghiệp dịch vụ có thu nhưng nguồn thu chủ yếu là các sản phẩm phụ và số thu nhỏ, còn sản phẩm chính thì hàng năm lập dự toán chi phí trình cấp thẩm quyền duyệt cấp vốn ngân sách.

+ Sự nghiệp dịch vụ thuỷ nông: Đơn vị không có nguồn thu trực tiếp, mọi chi phí hàng năm đều do ngân sách cấp theo dự toán chi phí và do cấp thẩm quyền duyệt. Mô hình này áp dụng trong trường hợp thực hiện chính sách không thu thuỷ lợi phí đối với nông nghiệp hoặc thu nhưng bằng phương thức gián tiếp qua thuế nông nghiệp, thuế xuất khẩu hoặc hình thức quĩ.

– Các hình thức quản lý sử dụng hệ thống thuỷ nông của tập thể và tư nhân, thường gắn với mục tiêu kinh doanh, có thể có các dạng chủ yếu sau:

+ Các HTX dịch vụ thuỷ nông hay HTX nông nghiệp làm chức năng dịch vụ, các tổ hợp tác đường nước v.v…

+ Các công ty cổ phần: Hiện nay nước ta chưa có dạng này nhưng trong quá trình cổ phần hoá sẽ hình thành nhờ việc cổ phần hoá các hệ thống thuỷ nông vừa và nhỏ hiện nay Nhà nước vẫn đang quản lý sử dụng.

 Bảo vệ nguồn tài nguyên nước.

Tài nguyên nước phân bổ khắp nơi, gồm nước mặt đất và nước ngầm. Nguồn nước dễ bị hoà tan các hoá chất, rác thải, mầu, mùi vị trở nên ô nhiễm, nhất là nguồn nước mặt do chịu ảnh hưởng của các hoạt động của người và động vật. Công tác bảo vệ tài nguyên nước bao gồm hai nội dung chính sau đây:

a.  Phòng chống kạn kiệt nguồn nước.
Ngoài các nguyên nhân khách quan do thay đổi môi trường tự nhiên, khí hậu; các nguyên nhân làm kạn kiệt nguồn nước do con người gây nên chủ yếu là khai thác rừng bừa bãi, tạo nên đất trống đồi trọc làm giảm lượng nước trữ ở tầng đất, khi mưa tạo thành dòng chảy lũ lớn, làm giảm nước trong mùa kiệt. Các biện pháp chủ yếu là:

+ Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.

+ Định canh định cư đối với đồng bào dân tộc vùng cao.

+ Khai thác cây rừng hợp lý, vừa khai thác vừa trồng rừng tạo lớp phủ chống xói mòn.

+ Xây dựng các công trình hồ chứa để điều tiết lại nguồn nước, tăng lượng nước trong mùa khô và chống lũ trong mùa mưa.

b.  Phòng chống ô nhiễm nguồn nước.

Các biện pháp chủ yếu để phòng chống ô nhiễm nguồn nước bao gồm:

+ Giữ vệ sinh môi trường, dọn rác thải, làm giảm các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước.

+ Xây dựng, phát triển các công trình xử lý chất thải và nước thải của các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư. Trong phát triển các nhà máy mới cần coi xử lý chất thải là yêu cầu bắt buốc trong khi duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật, đặc biệt là các nhà máy thuộc các ngành như hoá chất, phân bón v.v…

+ Quản lý và bảo vệ môi trường biển.

+ Xây dựng và thực hiện chương trình quốc gia bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường nước.

+ Tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về chinh phục nguồn nước, cải tạo và bảo vệ môi trường nước.