Các khái niệm chung của thuế GTGT

 

Đối tượng chịu thuế GTGT: Là những hàng hoá, dich vụ theo quy định của luật pháp phải chịu thuế và thuế được tính dựa trên giá trị bằng tiền của hàng hoá, dịch vụ đó.

Đối tượng nộp thuế: Là đối tượng trực tiếp có quan hệ về mặt nghĩa vụ đối với cơ quan thuế. Là các tổ chức, cá nhân có sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định trong luật thuế GTGT của từng nước. Tuy nhiên ta có thể hiểu đối tượng tiêu dùng cuối cùng là người phải chịu toàn bộ số thuế tính trên GTGT từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng. Trong quá trinh luân chuyển trên thị trường cơ quan thuế luôn phải tiến hành tinh toán thu thuế đầu ra và hoàn thuế đầu vào cho các khâu luân chuyển trên thị trường. Hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng đã bao hàm toàn bộ thuế GTGT của các khâu trước trong giá.

Căn cứ và phương pháp tính thuế

–         Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế và thuế suất.

Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ là giá chưa có thuế của hàng hoá dịch vụ đó.

Thuế suất áp dụng cho luật thuế GTGT được nghiên cứu sao cho phù hợp nhất với đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Thuế suất thuế GTGT thông thường chỉ gồm từ một đến ba mức nhưng trên thế giới xu hướng đơn giản hoá số lượng thuế suất thuế GTGT nhằm đơn giản biểu thuế, đơn giản hoá công tác hành chính thuế cũng như tạo sự thông thoáng, cởi mở sẵn sàng hội nhập các nhóm, các cộng đồng kinh tế trong khu vực và trong châu lục

–         Phươnp pháp tính thuế:

Về mặt lưý thuyết có 4 phương pháp xác định số thuế phải nộp:

+ Phương pháp cộng thẳng trực tiếp hay còn gọi là phương pháp kế toán:

Thuế GTGT = Thuế suất x (tiền công + lợi nhuận)

+ Phương pháp cộng gián tiếp:

Thuế GTGT = Thuế suất x tiên công + thuế suất x lợi nhuận

+ Phương pháp trừ trực tiếp:

Thuế GTGT = thuế suất x (giá đầu ra – giá đầu vào).

+ Phương pháp trù gián tiếp (còn gọi là phương pháp hoá đơn hay phương pháp khấu trừ)

Thuế GTGT = (thuế suất x giá đầu ra) – (thuế suất x giá đầu vào)