Các lý thuyết về lạm phát là gì?

Khi phân tích lưu thông tiền giấy theo chế độ bản vị vàng, Mác đã khẳng định một qui luật:việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình, với qui luật này, khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá mức giới hạn số lượng vàng hoặc bạc mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy sẽ giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiên. Có thể xem đây như là một định nghĩa của Mác về lạm phát. Song có những vấn đề cần phân tích cụ thể hơn. Tiền giấy ở nước ta cũng như ở tất cả các nước khác hịên đều không theo chế độ bản vị vàng nữa, do vậy người ta có thể phát hành tiền theo nhu cầu chi của nhà nước, chứ không theo khối lượng vàng mà đồng tiền đại diện. Điều đó hoàn toàn khác với thời Mác.

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau vế lạm phát. Trong số các dó có các lý thuyết chủ yếu là:
Lý thuyết cầu do nhà kinh tế Anh nổi tiếng John Keynes đề xướng. Ông đã qui nguyên nhân cơ bản của lạm phát về sự biến động cung cầu. Khi mức cung đã đạt đến tột đỉnh vượt quá mức cầu, dẫn đến đình đốn sản suất, thì nhà nước cần phải tung thêm tiền vào lưu thông, tăng các khoản chi nhà nước, tăng tín dụng, nghĩa là tăng cầu để đạt tới mức cân bằng với cung và vượt cung. Khi đó đã xuất hiên lạm phát, và lạm phát ở đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Vậy là trong điều kiện nền kinh tế phát triển có hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng tích cực, cơ cấu kinh tế được đổi mới nhanh và đúng hướng thì lạm phát đã là một công cụ để tăng trưởng kinh tế, chống suy thoái. Thực tế củat các nền kinh tế thị trường trong thời kỳ sau chiền tranh thế giới thứ hai đã chứng tỏ điều đó. Nhưng khi nền kinh tế đã rơi vào thời kỳ phát triển kém hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng chậm chạp, cơ cấu kinh tế được đổi mới theo các hướng không đúng hay trì trệ, thiết bị kỹ thuật cũ tồn đọng đầy ứ. v. v… thì lạm phát theo lý thuyết cầu đã không còn là công cụ tăng trưởng kinh tế nữa.

Lý thuyết chi phí cho rằng lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí sản xuất, kinh doanh đã nhanh hơn mức tăng năng suất lao động. Mức tăng chi phì này chủ yếu là do tiền lương được tăng lên, giá các nguyên nhiên vật liệu tăng, công nghệ cũ kỹ không được đổi mới, thể chế quản lý lạc hậu không giảm được chi phí… Đặc biệt là trong những năm 70 do giá dầu mỏ tăng cao, đã làm cho lạm phát gia tăng ở nhiều nước. Vậy là chi phí tăng đến mức mà mức tăng năng suất lao động xã hội đã không bù đắp được mức tăng chi phí khiến cho giá cả tăng cao lạm phát xuất hiện. ở đây suy thoái kinh tế đã đi liền với lạm phát. Do đo, các giải pháp chống lạm phát không thể không gắn liền với các giải pháp chống suy thoái. Kể từ cuối những năm 60 nền kinh tế thế giới đã rơi vào thời kỳ suy thoái với nghĩa là tốc độ tăng trưởng bị chậm lại, kể từ đó vai trò là công cụ tăng trưởng của lạm phát đã không còn nữa.

Lý thuyết cơ cấu được phổ biến ở nhiều nước đang phát triển. Theo lý thuyết này thì lạm phát nảy sinh là do sự mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu cơ của nền kinh tế mất cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp và nông nghiệp giữa sản xuất và dịch vụ… Chính sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế đã làm cho nền kinh té phát triển không có hiệu quả, khuyến khích các lĩnh vực đòi hỏi chi phí tăng cao phát triển. Và xét về mặt này lý thuyết cơ cấu trùng hợp với lý thuyết chi phí

Cũng có thể kể ra các lý thuyết khác nữa như lý thuyết tạo lỗ trống lạm phát lý thuyết số lượng tiền tệ… song dù có khác nhau về cách lý giải nhưng hầu như tất cả các lý thuyết đều thừa nhận: lạm phát chỉ xuất hiện khi mức giá cả chung tăng lên, do đó làm cho giá tri của đồng tiền giảm xuống. Định nghĩa này có một điển chung là hiện tượng giá cả chung tăng lên và giá trị đồng tiền giảm xuống. Tốc độ lạm phát được xác định bởi tốc độ thay đổi mức giá cả.