Các mô hình phát triển bền vững

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về PTBV. Công trình nghiên cứu: “Tiến tới môi trường bền vững” của Trung tâm tài nguyên và môi trường; công trình nghiên cứu “Xây dựng tiêu chí PTBV cấp quốc gia ở Việt Nam” của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật  Việt  Nam… Cùng với các mô hình PTBV như mô hình của WCED “Tương tác đa lĩnh   vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội” (năm 1987); mô hình “3 vòng tròn kinh tế, xã hội, môi trường giao nhau” của JACOBS và SADLER (năm 1990); mô hình của VILLEN “Liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái” (năm 1990); mô  hình “3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường” của ngân hàng thế giới (WB)  ngày  càng được đổi mới và hoàn thiện hơn. Một số mô hình tiêu biểu được chú ý nhiều trong   nền SX hiện đại như:

·          Mô hình các cấp độ phát triển bền vững Herman Daly (1989)

Herman Daly cho rằng đang tồn tại hai quan điểm, cũng là hai cấp độ PTBV: bền vững yếu và bền vững mạnh.

Mô hình PTBV yếu thừa nhận rằng việc mở rộng KT không giới hạn là điều không mong đợi và không thể xảy ra. Mô hình này không quan tâm sự khác biệt liên quan giữa   các loại vốn và giả định rằng có sự thay thế hoàn hảo về vốn, và  rằng các nguồn  tài  nguyên không tái tạo có thể và sẽ được thay thế bằng các  hình thức khác của  năng lượng  và vật liệu SX, chẳng hạn như từ tái chế. Cách tiếp cận này sẽ cho phép một số suy thoái MT diễn ra miễn là trong sự cân bằng tổng thể của nguồn vốn tự nhiên và SX được duy trì thông qua các lợi ích KT và XH (theo Baker và cộng sự, 1997). Quan niệm này đặc trưng bởi một số luận điểm là con người có thể giải quyết các vấn đề PTBV bằng cách hợp lý   hóa quy trình hiện hành và kết hợp các tiến bộ KH&CN mới (Davidson, 2000, 2002).

Ngược lại, mô hình PTBV mạnh nhấn mạnh sự kéo dài, cải thiện và duy trì vốn hiện tại và tương lai. Mô hình này xuất phát từ nhận thức rằng sự thay thế của vốn SX cho vốn  tự nhiên là không chắc chắn, bởi sự tồn tại của vốn tự nhiên có những đóng góp không thể thay thế trong phúc lợi (theo: Bridger và Luloff, 1999; Ekins và cộng sự, 2003). “Phát triển” trong trường hợp này được định nghĩa là cải thiện chất lượng của tất cả các loại vốn, trái ngược với việc tăng về lượng của một số loại vốn. Mô hình PTBV mạnh nghiêng về hướng bảo vệ nguồn tài nguyên, đặc biệt là các thành phần quan trọng của vốn thiên nhiên, ngay    cả nếu điều này có nghĩa là phải bỏ qua một số cơ hội phát triển (theo Baker và cộng sự, 1997). Cách tiếp cận này bao trùm quan niệm rằng cuộc khủng hoảng sinh thái trong XH hiện đại phụ thuộc vào sự thay đổi cơ bản trong cách chúng ta tương tác với hệ sinh thái, và không ủng hộ phương pháp tiếp cận gia tăng về lượng bởi các mô hình PTBV yếu (theo Davidson, 2002).

·        Mô hình tương tác giữa 3 hệ thống tự nhiên-kinh tế-xã hội trong PTBV:

Theo Jacobs và Sadler (năm 1990) PTBV là kết quả dung hòa và thỏa hiệp của 3 hệ thống chủ yếu, đó là (i) Hệ thống bao gồm các thành phần MT của trái đất; các hệ sinh thái tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên có trong tự nhiên; (ii) Hệ KT bao gồm hệ SX và phân phối SP; (iii) Hệ XH bao gồm quan hệ giữa con người với con người trong XH (Hình 1.3)

Mô hình PTBV của UNCED (năm 1993) nhấn mạnh các mục tiêu KT (nâng cao    thu nhập người dân, phát triển các ngành KT và GDP, GNP), mục tiêu XH (thỏa mãn các nhu cầu của mọi người dân và các cộng đồng dân cư), mục tiêu MT (giữ lâu dài cân bằng của các hệ sinh thái nuôi dưỡng sự sống). Mô hình này không thể hiện rõ sự tương tác, phụ thuộc và tính liên kết của các mục tiêu PTBV.

Mohan Munasinghe (năm 1993) đưa ra mô hình PTBV còn được gọi là mô hình 3 cực: (i) Cực KT thể hiện khả năng phát triển KT của một quốc gia dựa trên yếu tố NNL,   vật lực và tài lực. Hội đủ 3 yếu tố này và kết hợp một cách hiệu quả là vấn đề khó khăn    đòi hỏi cần phải đảm bảo tăng trưởng KT hiệu quả và ổn định; (ii) Cực  XH thể hiện sự  phát triển KT phải gắn liền với phát triển XH, đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả người dân; (iii) Cực MT yêu cầu quá trình phát triển của loài người phải coi trọng và bảo vệ có hiệu quả MT chung của thế giới.

Mô hình của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) đã  mở rộng  các  lĩnh vực về PTBV bao gồm KT, chính trị, XH, hành chính, công nghệ, SX và quốc tế. Về thực chất mô hình này xem xét PTBV của một quốc gia, trước hết phải bảo đảm sự phát triển hài hòa của các  yếu tố trên, sau đó phải xem xét trong sự PTBV của thế giới và do  vậy chịu sự tác động bởi các yếu tố mang tính quốc tế. Trong những năm gần đây, các mô hình thay thế cho các tam giác PTBV đã được    đề xuất. Trong số đó, đặc trưng nhất  là mô hình lăng kính và mô hình trứng. Lăng kính  của PTBV được xây dựng từ Trường Wuppertal (Spangenberg và Bonniot 1998, Valentin và Spangenberg 1999) quy định bốn yếu tố (Hình 1.4):

  • Khía cạnh KT (vốn con người tạo ra)
  • Khía cạnh MT (vốn tự nhiên)
  • Khía cạnh XH (nguồn nhân lực)
  • Khía cạnh thể chế chính sách (vốn XH)

Trong mỗi chiều của lăng kính PTBV, có quy định riêng (gọi là quy tắc). Các chỉ số được sử dụng để đo các cách nhìn về sự PTBV (CF. Valentin và Spangenberg 1999)Kain cũng đưa ra mô hình lăng kính MAIN (Mind, Artifact, Institute, Nature) của PTBV (Hình 1.5). Trong mô hình Kain sử dụng các yếu tố trí tuệ, tạo tác, thể chế và tự nhiên. Khía cạnh tạo tác (Artefact) là đại diện cho tất cả các vật chất nhân tạo như các tòa nhà và đường sá… Khía cạnh XH (Mind) gồm thế giới quan, kiến thức, kinh nghiệm…    Khía cạnh tự nhiên bao gồm tất cả các nguồn vốn tự nhiên, có thể được chia làm nguồn tài nguyên không tái tạo và các nguồn tài nguyên tái tạo. Khía cạnh thể chế liên quan đến XH chúng ta và các quan hệ con người.

Ở hai mô hình lăng kính trên, sự tương tác giữa bốn hướng quyết định đến sự PTBV. Nếu cả bốn hướng đồng thời cùng tăng, thì sẽ đạt được sự PTBV (Stenberg 2001).

Mô hình “Quả trứng” phản ánh tính bền vững trong phát triển

Theo Presscott Allen (năm 1995) đã đưa ra mô hình “quả trứng” phản ánh tính bền vững của XH. Mô hình mô tả hệ con người nằm trong hệ sinh thái giống như lòng đỏ quả trứng nằm bên trong lòng trắng của một quả trứng. Một quả trứng tốt khi cả lòng đỏ và   lòng trắng đều tốt cũng giống như một XH bền vững khi cả 2 hệ con người và hệ sinh thái đạt yêu cầu và được cải thiện. Điều đó có nghĩa là hệ con người và hệ sinh thái đều quan trọng như nhau trong điều kiện PTBV (hình 1.6). Điều này có nghĩa rằng mọi người trong hệ sinh thái, có quan hệ phụ thuộc nhau. Cũng giống như một quả trứng tốt chỉ khi cả hai màu trắng và lòng đỏ đều tốt. Do đó, một XH tốt và bền vững chỉ khi cả hai yếu tố, con người  và hệ sinh thái đều tốt. Sự phát triển XH, KT chỉ có thể diễn ra  nếu MT cung cấp  các nguồn lực cần thiết như: nguyên liệu sống, không gian cho sự phát triển, vấn đề  an  sinh. Những quả trứng đặt các hệ sinh thái ở vị trí trung tâm, theo logic rằng nếu không có hệ sinh thái tốt thì KT, XH và hạnh phúc sẽ không đạt được. Mặc dù tất cả các mô hình mang tính trừu tượng hóa từ thực tế, chúng được sử dụng rộng rãi trong quy hoạch không gian để được lựa chọn cho tiếp cận PTBV.

  • Mô hình đánh giá tiến bộ trong phát triển bền vững

Hodge (năm 1993, 1995) đề xuất mô hình “Trình tự đánh giá tiến bộ về bền vững”,  mô hình này được xây dựng dựa trên trả lời 4 câu hỏi thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa  điều kiện hệ sinh thái và điều kiện con người: (i) Điều kiện hệ sinh thái hiện tại như thế  nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó; (ii) Điều kiện con người  hiện tại như thế nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi  đó; (iii) Có thể đưa ra những kết luận gì về hiện trạng và những tiến bộ (tổng hợp); (iv)   Cần phải làm gì/giải pháp gì để đạt được những mục tiêu/chiến lược đề ra? (Hình 1.7)

  • Mô hình AGENDA – 21

Năm 2004, Việt Nam đã xây dựng được cho mình chương trình PTBV riêng, mang tên AGENDA-21, trong đó nêu rõ mục tiêu tổng quát của PTBV là: Phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được 3 mặt là (i) phát triển KT phải đạt được sự đầy đủ về vật chất cho đời sống mọi người dân; (ii) phát triển XH nghĩa là sự giàu có về văn hóa và tinh thần, sự bình đẳng và sự đồng thuận của XH, và (iii) bảo vệ MT cũng là sự hài hòa giữa   con người và tự nhiên.

Như vậy theo mô hình PTBV của Việt Nam, PTBV là vấn đề cốt lõi, trung tâm của sự phối hợp một cách hài hòa cả 3 mặt tăng trưởng KT, công bằng XH và bảo vệ MT.  Ngoài ra, với thực tế tại Việt Nam cần đưa thêm yếu tố thứ tư là vấn đề thể chế, chính    sách, bao gồm mọi luật lệ, qui định, phép tắc, tập tục chi phối PTBV. Trong đó mục đích cuối cùng của PTBV mà Việt Nam cần hướng tới là chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao.

Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới đã làm rõ nguyên lý cơ  bản  muốn  tăng trưởng KT nhanh phải có phương thức huy động tối đa mọi nguồn lực, mọi tiềm năng hiện có cho đầu tư phát triển. Từ những áp lực về KT để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, hầu như tất cả các nước tạm thời chưa chú trọng đến công bằng XH và bảo vệ MT chỉ coi trọng tăng trưởng KT là mục tiêu hàng đầu. Từ đó các quốc gia đầu tư mọi nguồn lực có thể có vào mục tiêu KT trong ngắn hạn và tạm thời đánh đổi các khía cạnh khác của bền vững là MT và XH. Trong quá trình phát triển  này  họ  phải chấp nhận hậu quả của sự bất bình  đẳng trong XH và sự suy thoái MT. Chỉ đến khi đạt được trình độ phát triển KT cao, lúc    đó họ sẽ có điều kiện để khắc phục dần sự bất bình đẳng về phân phối thu nhập trong XH  và làm sạch lại MT sống.

Với phương thức phát triển như trên, đã làm nảy sinh nhiều vấn đề MT và biến đổi XH-nhân văn ở nhiều nước. Tăng trưởng KT không có kiểm soát như trên sẽ khuyến khích hoạt động khai thác dẫn đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mức độ ô nhiễm MT ngày càng cao, sự cố MT, thiên tai lũ lụt ngày càng gia tăng (sóng thần, động đất, bão lụt,…). Đất bị xói mòn hoang hóa, các dòng sông bị ô nhiễm vì nước thải, bầu trời bị ô nhiễm vì khói bụi công nghiệp là những tác nhân làm gia tăng dịch bệnh từ đó càng làm nghiêm trọng thêm các vấn đề XH, nhất là những quốc gia nghèo và đang muốn phát triển nhanh.

Việc một số quốc gia chậm phát triển chạy theo những chỉ tiêu về tốc độ, kiểu làm việc càng chi phí nhiều càng có lợi thường kéo theo đầu tư tràn lan đến một mức nào đó thiên nhiên bị tàn phá dẫn đến mất cân đối trong phát triển, triệt tiêu các động lực, các cơ hội ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ để giảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng SP tạo ra tình trạng thiếu hiệu quả và ngay tại thời điểm đó khủng hoảng xảy ra sẽ làm tiêu tan rất nhanh chóng những gì mà họ đã đạt được.