Các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Nhiều nghiên cứu cho thấy giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và tăng trưởng kinh tế tồn tại mối quan hệ tích cực. Khởi đầu là nghiên cứu của Papanek (1973) đã phân tích hồi quy dữ liệu bảng gồm 34 quốc gia trong thập niên 1950 và 51 quốc gia trong thập niên 1960, tác giả sử dụng các biến độc lập làm biến nghiên cứu chính gồm nguồn vốn hỗ trợ nước ngoài, đầu tư nước ngoài và tiết kiệm trong nước. Kết quả nghiên cứu chung cho 85 quốc gia trong thập niên 1950 và thập niên 1960 là: tiết kiệm và các thành phần trong dòng vốn nước ngoài gồm: nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, đầu tư tư nhân và các dòng vốn khác đã giải thích được hơn một phần ba tốc độ tăng trưởng kinh tế. Qua nghiên cứu này đã chứng minh rằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có đóng góp trong việc giải thích về tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu một cách thuần túy về tác động các nguồn vốn từ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế mà chưa kết hợp đưa các yếu tố khác tác động đến tăng trưởng kinh tế vào mô hình nghiên cứu. Phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) và chủ yếu phân tích dựa vào ma trận tương quan giữa các biến.

Dowling và Hiemenz (1982) đã tập trung vào phân tích xem xét sự khác  nhau về tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế đối với nhóm quốc gia có thu nhập thấp và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thuộc khu vực châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm quốc gia có thu nhập trung bình gồm các nước Thái Lan, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Singapore, Indonesia… sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức hiệu quả hơn và tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế mạnh hơn so với nhóm quốc gia có thu nhập thấp. Nghiên cứu của nhóm tác giả này có ưu điểm khi đưa thêm các biến về chính sách chính phủ của mỗi quốc gia vào mô hình nghiên cứu, các biến chính sách  chính phủ gồm: độ mở của nền kinh tế, vai trò của chính phủ trong huy động nguồn vốn trong nước, tỷ lệ khu vực công trong hoạt động kinh tế, áp chế tài chính. Tuy nhiên phương pháp hồi quy trong nghiên cứu này còn đơn giản, chưa xem xét và xử lý vấn đề đặc điểm riêng giữa các quốc gia trong phương pháp nghiên cứu.

Levy (1988) đã tiến hành phân tích định lượng về mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế tại những nước có thu nhập thấp thuộc khu vực Châu Phi, mẫu nghiên cứu gồm 22 nước thuộc khu vực này trong giai đoạn 1968-1973 và 1974-1980. Hai phát hiện chính trong nghiên cứu thực nghiệm này là: thứ nhất, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tương quan dương với đầu tư và tăng trưởng kinh tế; thứ hai, vốn đầu tư toàn xã hội có đóng góp đáng kể vào tỷ lệ tăng trưởng. Như vậy, nghiên cứu này ủng hộ trường phái nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư.

Fayissa và El-Kaissy (1999) với dữ liệu của 77 quốc gia đang phát triển trên thế giới trong các giai đoạn khác nhau: 1971-1980, 1981-1990 và 1971-1990. Dựa trên các lý thuyết về tăng trưởng hiện đại, tác giả chỉ ra rằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, tiết kiệm trong nước, vốn con người và xuất khẩu có tương quan thuận chiều với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn này. Nghiên cứu thực nghiệm này củng cố lý thuyết kinh tế của Chenery và Strout (1966) về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức rằng nguồn vốn này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách bổ sung vốn vào nguồn vốn đầu tư trong nước. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định kinh nghiệm của những nước Bangladesh và Ấn Độ cho thấy nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển.

Addison, Mavrotas và McGillivray (2005) khảo sát các xu hướng viện trợ chính thức cho các nước thuộc khu vực Châu Phi trong giai đoạn 1960-2002. Bài viết kết luận viện trợ trong thực tế đã thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo. Hơn nữa, nó cũng tác động đến khối khu vực công, góp phần nâng cao chi tiêu công, giảm các khoản vay trong nước. Karras (2006), điều tra các mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng GDP bình quân đầu người sử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1960-1997 cho một mẫu của 71 nước đang phát triển. Bài viết này kết luận rằng tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực, ổn định lâu dài và có ý nghĩa thống kê.

Dimitrios Asteriou (2009) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ cả trong ngắn hạn và dài hạn giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế tại 5 nước Nam Á gồm: Bangladesh, Nepal, India, Sri Lanka, Pakistan trong giai đoạn 1975-2002. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết cho dữ liệu bảng bằng phương pháp ước lượng MG (mean group) và PMG (pooled mean group). Bằng kỹ thuật ước lượng này, kết quả hệ số hồi quy cho thấy khi nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tăng 1% thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên 0,09%. Nghiên cứu này đã chứng minh nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính và tăng trưởng kinh tế có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết, đồng nghĩa rằng hai biến này có mối quan hệ với nhau trong dài hạn và đây là mối quan hệ đồng biến.

Fasanya, I.O. và Onakoya (2012) đã tiến hành phân tích tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế tại nước Nigeria giai đoạn 1970-2010. Hai tác giả đã sử dụng phân tích định lượng với kiểm định đồng liên kết Johansen (Johansen, 1988, Johansen and Juselius, 1990) và ứng dụng mô hình ECM, kiểm định nhân quả Granger (Engle and Granger, 1987) cho ra kết quả quả rằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng chính phủ tại nước nhận viện trợ cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn vốn này. Vì vậy, nguồn vốn ODA nên sử dụng vào cải thiện chất lượng chính phủ trước khi sử dụng cho hỗ trợ phát triển kinh tế.

Galiani và cộng sự (2016) bằng nghiên cứu thực nghiệm với mẫu dữ liệu gồm 35 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1987-2010 đã tìm ra kết quả rằng 1% tăng lên trong tỷ lệ ODA/GNI sẽ đóng góp tăng 0,031% tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP trong ngắn hạn và tăng 0,35% tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP trong dài hạn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hệ số hồi quy của biến CPIA bằng 0,0151 và có ý nghĩa thống kê, đồng nghĩa rằng tự do về thể chế chính trị tác động dương đến tăng trưởng kinh tế. Tác giả đã sử dụng chỉ số CPIA (Country Policy and Institutional Assessment) của World Bank để đo lường yếu tố chất lượng thể chế và chính sách của nước nhận nguồn vốn ODA. Đây cũng là chỉ số được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về đánh giá chất lượng thể chế quốc gia, chính sách chính phủ.