Các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tác động tiêu cực hoặc không tác động đến tăng trưởng kinh tế

Một số nghiên cứu khẳng định nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tác động tiêu cực hoặc không tồn tại mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Enos và Griffin (1970), thực hiện kiểm định kết quả tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến phát triển kinh tế tại 15 nước Châu Phi và Châu Á trong giai đoạn 1962-1964, kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ mật thiết giữa lwợng vốn ODA tiếp nhận và tỷ lệ tăng trwởng GNP, hệ số tương quan giữa 2 biến này rất thấp. Tác giả cũng thực hiện kiểm định với dữ liệu 12 nước Châu Mỹ Latinh trong giai đoạn 1957-1964, tác giả tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và GNP. Đây là nghiên cứu chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nghiên cứu này sử dụng mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu còn nhiều hạn chế, mô hình nghiên cứu chỉ gồm hai biến đó là GNP và ODA/GNP, mẫu dữ liệu cũng chưa đủ lớn. Vì vậy, kết quả hồi quy của nghiên cứu này chưa thật sự thuyết phục và đáng tin cậy.

Mosley và cộng sự (1987) đã sử dụng phương pháp ước lượng OLS và 3SLS cho dữ liệu bảng trong giai đoạn 1960-1970 với nhiều mẫu nghiên cứu khác nhau gồm 52 quốc gia đang phát triển, 15 quốc gia nghèo nhất thế giới và 37 quốc gia có thu nhập trung bình. Tất cả các mẫu nghiên cứu đều cho kết quả đồng nhất là mối quan hệ ngược chiều giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tốc độ tăng trưởng GNP. Nhóm tác giả chỉ ra rằng dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức có mối quan hệ ngược chiều với vốn đầu tư khu vực cá nhân, dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức đẩy đầu tư tư nhân ra ngoài dẫn đến thu nhập người lao động bị giảm sút, kết quả nguồn vốn ODA tác động tiêu cực và làm giảm tỷ lệ thu nhập quốc dân. Như vậy, kết luận chính trong nghiên cứu này là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Snyder (1993) đã dựa trên mô hình nghiên cứu của Papanek (1972, 1973) và bổ sung thêm biến quy mô quốc gia vào mô hình, biến quy mô quốc gia được đo lường bằng GDP (Gross Domestic Product). Dữ liệu được sử dụng để ước lượng trong mô hình là 69 quốc gia đang phát triển trong 3 giai đoạn 1960-1969, 1970- 1979 và 1980-1987. Khi đưa biến quy mô quốc gia vào mô hình thì thấy rõ mức độ tác động tích cực đáng kể của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng khi không xét đến quy mô quốc gia, kết quả cho thấy hiệu quả của nguồn vốn này đến phát triển kinh tế là không đáng kể. Tác giả hàm ý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức sẽ có giá trị đối với người nghèo sống ở quốc gia quy mô nhỏ hơn là người nghèo sống ở quốc gia quy mô lớn. Friedman (1995) cũng cho rằng: “Viện trợ không thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế như các nhà kỹ trị kỳ vọng. Viện trợ kinh tế chỉ làm trì trệ quá trình cải tiến phúc lợi của dân chúng, trong khi làm tăng quyền lực của chính phủ và làm xói mòn tiến trình dân chủ và tự do”. Nhìn chung, viện trợ không làm tăng đáng kể đầu tư và tăng trưởng.

Jensen và Paldam (2003) đã thực hiện nghiên cứu ước lượng với 56 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1970-1993 với mô hình gồm hai biến nghiên cứu chính là ODA và ODA, nghiên cứu đã tìm ra kết quả quan trọng đó là biến ODA  có tác động tích cực nhưng biến ODA có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, kết quả này chứng minh rằng nguồn vốn ODA có hỗ trợ tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng khi ODA tăng đến điểm cực đại thì việc tăng nguồn vốn ODA sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Qua đó, hàm ý về mặt chính sách rằng nguồn vốn ODA nên được phân bổ đều và không nên vượt quá điểm tối ưu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng kết luận về mối quan hệ yếu giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế. Điểm phát hiện nổi bật của nghiên cứu này đó là chứng minh tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa nguồn vốn ODA và tăng trưởng kinh tế, xác định ngưỡng ODA tối ưu là ODA/GDP bằng 5% đối với mẫu dữ liệu 56 quốc gia trên thế giới.

Gomannee và cộng sự (2005) thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế với dữ liệu bảng gồm 24 nước thuộc khu vực Châu Phi hạ Sahara trong giai đoạn 1970-1997. Bằng phương pháp ước lượng Pooled OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù có lượng vốn ODA rất lớn đổ vào các quốc gia thuộc khu vực này nhưng trung bình hàng năm tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người chỉ có 0,6%, kết quả này có thể đánh giá rằng nguồn vốn ODA không hiệu quả và tác động không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Malik (2008) khi cho rằng các quốc gia thuộc khu vực Châu Phi hạ Sahara nhận quá nhiều nguồn vốn ODA dẫn đến phụ thuộc vào nguồn vốn này và rơi vào gánh nặng trả nợ. Trong nghiên cứu của Malik thực hiện với 6 nước nghèo nhất thuộc Châu Phi thì kết quả chứng minh trong dài hạn nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế đối với 5 trong 6 quốc gia, chỉ ngoại trừ trường hợp nước Togo. Ưu điểm của các nghiên cứu này là trong kỹ thuật ước lượng nhóm tác giả đã kiểm soát được vấn đề nội sinh, ảnh hưởng của đặc điểm riêng từng quốc gia và vấn đề điểm dị biệt trong dữ liệu. Đây là những vấn đề cơ bản cần phải xử lý khi thực hiện ước lượng đối với các mô hình dữ liệu bảng để mang lại kết quả ước lượng vững và hiệu quả.

Ekanayake và Chatrna (2010) đã có bài nghiên cứu phân tích về ảnh hưởng của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển. Hai tác giả này đã sử dụng dữ liệu của 85 nước đang phát triển thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latin và các nước thuộc vùng Caribe trong giai đoạn 1980-2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tùy theo giai đoạn thời gian, tùy theo khu vực lãnh thổ và tùy theo mức độ thu nhập mỗi quốc gia thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Mô hình ước lượng cho trường hợp giai đoạn thời gian khác nhau cho thấy nguồn vốn ODA nghịch biến với GDP nhưng hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Mô hình ước lượng cho trường hợp khu vực lãnh thổ khác nhau cho thấy nguồn vốn ODA cũng nghịch biến với GDP, chỉ riêng khu vực Châu Phi thì nguồn vốn ODA cùng chiều với GDP. Mô hình ước lượng cho trường hợp nhóm quốc gia có thu nhập khác nhau cho thấy nguồn vốn ODA tác động tích cực đến GDP, chỉ riêng nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp thì nguồn vốn ODA tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này có điểm khá nổi bật đó là chia mẫu nghiên cứu thành nhiều nhóm khác nhau như: theo khu vực lãnh thổ, thu nhập bình quân đầu người…để làm rõ tác động của nguồn vốn ODA đến tăng trưởng kinh tế.

Hamid (2013) sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Model) cho dữ liệu thời gian trong giai đoạn 1970-2010 tại quốc gia Ai Cập để ước lượng tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả nghiên cứu trong ngắn hạn và dài hạn đều có điểm chung là nguồn vốn ODA không hỗ trợ và tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của nước Ai Cập. Tác giả lý giải kết quả này là do môi trường chính sách yếu kém của quốc gia đã làm cho nguồn vốn ODA không hiệu quả , tác giả cũng đề xuất rằng quốc gia này nên tập trung dựa vào nguồn lực trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế hơn là dựa vào nguồn lực từ bên ngoài.

Jean (2015) nghiên cứu tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tiết kiệm trong nước, đầu tư trong nước và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tại nước Haiti trong giai đoạn 1975-2010, kết quả nghiên cứu chỉ ra nguồn vốn viện trợ từ nước ngoài không làm tăng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tại nước Haiti trong giai đoạn này. Tác giả đã giải thích sự thất bại của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong việc làm tăng GDP là do nước Haiti đã lãng phí quá nhiều nguồn vốn ODA trong việc sử dụng để tiêu dùng hàng hóa thay vì sử dụng cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và phát triển xã hội. Qua đó tác giả kiến nghị Chính phủ muốn nguồn vốn ODA góp phần tăng trưởng kinh tế thì sử dụng nguồn vốn này vào đầu tư các chương trình phát triển về: giáo dục, y tế, nông nghiệp và các dịch vụ xã hội…thông qua đó sẽ tác động tích cực đến phát triển kinh tế. Như vậy, có thể nhận thấy nghiên cứu này nhấn mạnh đến cách sử dụng nguồn vốn ODA, hiệu quả nguồn vốn ODA phụ thuộc vào cách thức phân bổ nguồn vốn này.