Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế cho kết quả không đồng nhất. Ở một số nghiên cứu, nguồn vốn ODA đã được chứng minh là có tác động tích cực nhưng đôi khi lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu khoa học đã đề ra cách thức giải quyết bằng cách đưa vào mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn ODA nhằm kiểm soát các yếu tố vừa đóng vai trò là nhân tố quản lý, sử dụng vốn ODA vừa là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đã có một số công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiêu biểu như: Boone (1996) nghiên cứu về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức theo khía cạnh ảnh hưởng của chế độ chính trị đến hiệu quả của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đối với nước nhận viện trợ. Tác giả thực hiện hồi quy bằng phương pháp OLS và FE với dữ liệu bảng 96 quốc gia giai đoạn 1971-1990 để kiểm định xem liệu có tồn tại sự khác biệt về hiệu quả nguồn vốn ODA khi có sự khác nhau về chế độ chính trị. Trong mô hình nghiên cứu tác giả đã sử dụng biến giả chế độ chính trị để phân biệt chế độ tự do hay chế độ dân chủ, đồng thời sử dụng thêm biến chế độ chính trị đo lường bằng chỉ số tự do chính trị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ chính trị tự do hay dân chủ không ảnh hưởng đến hiệu quả nguồn vốn ODA, nhưng nguồn vốn ODA có vai trò như là công cụ để thay đổi tích cực đến chế độ chính trị theo hướng tự do phát triển con người, khuyến khích chế độ chính trị tốt hơn, tự do xã hội, điều này sẽ có ý nghĩa về mặt hiệu quả trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và giảm nghèo đối với các chương trình sử dụng vốn ODA. Trong nghiên cứu này đã phát hiện ra yếu tố về chính trị có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả nguồn vốn ODA, cụ thể nghiên cứu này đã nhấn mạnh đến yếu tố tự do, phát triển con người (Human Development) của nước nhận viện trợ có tác động đến hiệu quả nguồn vốn ODA. Knack (2000) sử dụng phương pháp ước lượng OLS và 2SLS với dữ liệu bảng gồm 68 quốc gia trong giai đoạn 1982-1995 để kiểm định và phân tích ảnh hưởng của chất lượng quản lý Chính phủ đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tiếp nhận nguồn vốn viện trợ cao sẽ làm xói mòn chất lượng quản lý Chính phủ, mức độ quy định luật pháp và tăng mức độ tham nhũng. Chất lượng quản lý Chính phủ được đo lường thông qua chỉ số ICRG (International Country Risk Guide), chỉ số ICRG được cấu thành dựa vào ba tiêu chí: mức độ tham nhũng trong Chính phủ, chất lượng thủ tục hành chính, mức độ quy định luật pháp. Tác giả cho rằng: “sự phụ thuộc vào nguồn vốn viện trợ làm hủy hoại chất lượng thể chế, khuyến khích trục lợi và tham nhũng, kích động xung đột trong việc kiểm soát quỹ viện trợ và làm giảm hiệu quả cải cách chính sách công”. Nghiên cứu này đã nhấn mạnh đến việc sử dụng chỉ số ICRG để đo lường chất lượng quản lý Chính phủ, chỉ số này được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến phân tích chất lượng Chính phủ, chất lượng quản lý nhà nước.

Craig Burnside và David Dollar (2000) nghiên cứu với đề tài “Viện trợ, chính sách và tăng trưởng: nghiên cứu thực nghiệm”, nghiên cứu tập trung kiểm định mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, các chính sách kinh tế và tốc độ tăng GDP bình quân đầu người. Nhóm tác giả thu thập mẫu dữ liệu của 56 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1970-1993 đồng thời sử dụng phương pháp ước lượng OLS và 2SLS để hồi quy các biến trong mô hình. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra rằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển với điều kiện chính sách tài khóa tốt cùng với chính sách tiền tệ và chính sách thương mại tốt, nhưng khi các chính sách này không tốt thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức vẫn có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở mức độ thấp. Qua đó, nghiên cứu này kết luận rằng chất lượng của các chính sách có ảnh hưởng đến hiệu quả nguồn vốn ODA, vì vậy nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức sẽ hiệu quả hơn trong điều kiện các chính sách tốt. Điểm nổi bật trong nghiên cứu này đó là tác giả đã tiến hành đo lượng biến chính sách thông qua chỉ số chính sách, chỉ số này được tính toán thông qua các yếu tố: trạng thái ngân sách nhà nước, lạm phát và độ mở thương mại. Tác giả đã lượng hóa được tác động của yếu tố chính sách đến hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Burnside và Dollar đã tiên phong mở ra hướng nghiên cứu tác động của các chính sách ảnh hưởng đến hiệu quả nguồn vốn ODA.

Easterly và cộng sự (2003) đã thực hiện nghiên cứu lặp lại dựa trên nghiên cứu của Burnside và Dollar (2000), nhóm tác giả đã áp dụng mô hình nghiên cứu và phương pháp hồi quy tương tự với nghiên cứu của Burnside và Dollar nhưng với cỡ mẫu dữ liệu lớn hơn. Cụ thể tăng số lượng mẫu nghiên cứu từ 56 quốc gia lên 62 quốc gia và mở rộng thời gian thu thập dữ liệu giai đoạn 1970-1997 so với giai đoạn 1970-1993 của nghiên cứu trước đây. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng kết luận  của Burnside và Dollar (2000) là chưa thật sự vững chắc khi phân tích với mẫu dữ liệu lớn hơn. Easterly và cộng sự đã phản biện kết luận của Burnside và Dollar khi cho rằng không phải khi có chính sách tốt thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong nghiên cứu của Easterly thì hệ số hồi quy của biến tương tác Aid policy giảm đáng kể so với nghiên cứu của Burnside và Dollar, qua đó Easterly đề xuất rằng các nhà làm chính sách nên giảm bớt lạc quan về kết luận khi có chính sách tốt thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, theo Easterly ngoài chính sách tốt thì hiệu quả của nguồn vốn ODA còn phụ thuộc vào chính sách xoay quanh nguồn vốn ODA và thể chế, chính trị của cả nước tiếp nhận vốn ODA và nước tài trợ. Qua nghiên cứu của Easterly đã gợi ý hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính trị đến hiệu quả của nguồn vốn ODA.

Chauvet và Guillaumont (2003) với bộ dữ liệu nghiên cứu gồm 59 nước đang phát triển trong giai đoạn 1965-1999 và sử dụng phương pháp ước lượng GMM 1 bước và 2 bước để ước ượng mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và tăng trưởng kinh tế khi thêm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nguồn vốn ODA gồm: chính sách kinh tế, cú sốc trong kinh tế, bất ổn chính trị và khả năng hấp thụ. Biến chính sách kinh tế đo lường thông qua yếu tố lạm phát và độ mở thương mại, biến cú sốc trong kinh tế đo lường thông qua tỷ lệ xuất khẩu/GDP, biến bất ổn chính trị đo lường thông qua số lượng biểu tình trên một triệu người, biến khả năng hấp thụ đo lường thông qua yếu tố khả năng cung cấp điện và số người tốt nghiệp cấp hai trên tổng dân số. Kết quả nghiên cứu ủng hộ chính sách kinh tế tốt, ổn định chính trị, khả năng hấp thụ cao sẽ tác động tích cực đến hiệu quả nguồn vốn viện trợ. Tuy nhiên nghiên cứu này có nhược điểm trong cách đo lường các biến chưa thật sự chính xác, biến chính sách kinh tế chưa đưa đề cập đến yếu tố chính sách tài khóa, biến bất ổn chính trị không cân nhắc đến trường hợp một số nước xảy ra nội chiến, biến khả năng hấp thụ cần xét thêm chỉ số HDI (Human Development Index).

Islam (2005) với bộ dữ liệu gồm 65 nước trong giai đoạn 1968-1997 và sử dụng phương pháp OLS và 2SLS ước lượng mô hình nghiên cứu về ổn định chính trị, chính sách kinh tế và hiệu quả nguồn vốn viện trợ đến tăng trưởng kinh tế. Biến ổn định chính trị bao gồm các yếu tố: số lượng người bị ám sát, số lượng biểu tình, số cuộc cách mạng. Biến chính sách kinh tế bao gồm các yếu tố: thặng dư ngân sách nhà nước, độ mở thương mại, lạm phát, vốn nhân lực và giá trị thực xuất khẩu. Dựa vào kết quả hệ số hồi quy của biến bất ổn chính trị và biến tương tác giữa bất ổn chính trị với viện trợ đều mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê, tác giả hàm ý rằng bất ổn chính trị làm giảm hiệu quả nguồn vốn viện trợ dẫn đến làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP. Tác giả cũng đưa ra nhận xét rằng những quốc gia có trình độ giáo dục cao sẽ ổn định chính trị hơn những nước có trình độ giáo dục thấp, các nước viện trợ sẽ phân bổ nguồn vốn ODA dựa trên quy mô quốc gia và tình trạng phát triển nhân lực của nước nhận viện trợ. Qua đó, tác giả khuyến nghị các nước tiếp nhận nguồn vốn ODA tập trung vào ổn định chính trị và phát triển trình độ giáo dục, nguồn nhân lực để tăng hiệu quả trong thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA. Nghiên cứu này đã nêu nổi bật vai trò của phát triển vốn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực của nước nhận viện trợ trong việc nâng cao hiệu quả hấp thụ nguồn vốn ODA và thu hút phân bổ nguồn vốn này của các nước tài trợ.

Murphy và Tresp (2006) thông qua nghiên cứu của mình xem xét vai trò của chính sách kinh tế đến hiệu quả của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức lên tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Để xem xét đầy đủ hơn những chỉ trích của Easterly (2003), hai tác giả cập nhật và điều chỉnh khung dữ liệu gốc của Burnside và Dollar (2000). Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan hệ chính sách kinh tế – viện trợ nước ngoài – tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào số lượng các quốc gia dùng trong phân tích: khi sử dụng bộ dữ liệu gốc 56 nước của Burnside và Dollar (2000) thấy rằng chính sách tốt sẽ làm nâng cao hiệu quả của viện trợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế, nhưng mối quan hệ này không đúng khi mở rộng tập hợp các quốc gia. Các tác giả cho rằng: bởi vì mối quan hệ chính sách kinh tế – viện trợ nước ngoài – tăng trưởng kinh tế có thể là phi tuyến tính, nên họ đưa ra một mô hình đơn vị xác suất (Probit model) để nhấn mạnh vào ngưỡng tăng trưởng kinh tế. Mô hình này ủng hộ một phần theo quan điểm chính sách tốt sẽ làm tăng xác suất viện trợ nước ngoài tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Qua nghiên cứu này một lần nữa cung cấp bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, đây cũng là một trong những vấn đề nghiên cứu còn đang gây tranh cãi hiện nay.

Feeny và Ashton de Silva (2012) tập trung nghiên cứu về yếu tố khả năng hấp thụ của nước tiếp nhận viện trợ ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990-2005. Hai tác giả này đã đo lường yếu tố khả năng hấp thụ của nước tiếp nhận nguồn vốn viện trợ thông qua chỉ số CIAC (composite index of absorptive capacity), chỉ số này được tính dựa trên các thành phần: giới hạn về vốn (bao gồm vốn con người và cơ sở hạ tầng), giới hạn về chính phủ (bao gồm giới hạn về chính sách và thể chế), chính sách của nước viện trợ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng gồm OLS, FE và System GMM đã chứng minh rằng giới hạn về khả năng hấp thụ làm cản trở hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), qua đó kiến nghị đến các nước viện trợ trong việc đưa ra các chương trình sử dụng nguồn vốn ODA và phân bổ nguồn vốn này cần chú trọng đến khả năng hấp thụ của nước nhận viện trợ. Nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng về yếu tố khả năng hấp thụ của nước tiếp nhận nguồn vốn ODA ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn vốn này, tuy nhiên nghiên cứu này tồn tại nhược điểm đó là đã nhập chung tất cả các yếu tố về vốn, con người, chính sách kinh tế, thể chế vào một chỉ số duy nhất là CIAC. Như vậy, không thể phân tích được tác động riêng của từng yếu tố thành phần trong chỉ số CIAC đến hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Mới đây, Jonathan và Nicolas (2017) đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và khả năng hấp thụ của nước tiếp nhận nguồn vốn ODA thông qua nghiên cứu “nguồn vốn hỗ trợ nước ngoài và hấp thụ quốc nội” Hai tác giả đã sử dụng số liệu của 88 nước có tiếp nhận nguồn vốn ODA trong giai đoạn 1971-2012, mô hình nghiên cứu bao gồm các biến độc lập: chi tiêu hộ gia đình, chi tiêu chính phủ, vốn đầu tư toàn xã hội, xuất khẩu và nhập khẩu, tất cả các biến này đều tính theo tỷ lệ với GDP. Bằng các phương pháp ước lượng FE (Fixed effects), FE IV (fixed effects IV), CCE (common correlated effects) và CCE IV (common correlated effects IV), 2SLS (, kết quả ước lượng cho thấy nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tác động dương đến tổng chi tiêu hộ gia đình và chính phủ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nguồn vốn ODA cũng tác động dương đến đầu tư nhưng mức độ tác động yếu hơn so với tác động đến tổng chi tiêu hộ gia đình và chính phủ. Qua đó cho thấy nguồn vốn ODA được hấp thụ chủ yếu thông qua kênh chi tiêu nhiều hơn kênh đầu tư, khả năng hấp thụ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ảnh hưởng bởi kinh tế quốc nội.