Các nghiên cứu trong nước về các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

Hiện nay, các nghiên cứu trong nước tập trung vào phân tích định tính các vấn đề liên quan đến nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức nhìn từ góc độ quản lý nhà nước và đồng thời chỉ ra các nguyên nhân, giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam. Đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:

Curry (1994) đề nghị 3 điểm: tận dụng lợi ích theo quy mô; đầu tư dự án hợp lý, tránh chồng chéo; thực hiện dự án mang lại ích lợi liên ngành. Đề nghị này của tác giả dựa trên nghiên cứu chỉ ra 2 vấn đề khi dòng vốn ODA tăng lên: (1) sự phát triển mất cân bằng giữa thành thị và nông thôn do phân bổ ODA không hiệu quả,

(2) gánh nặng cho ngân sách do các chi phí vận hành, sửa chữa các dự án tài trợ bằng ODA lớn hơn lợi ích đem lại.

Phạm Hoàng Mai (1996) cho rằng cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ trong việc quản lý và sử dụng ODA: Chính phủ cần tái cấu trúc luồng vốn ODA, thu hút các đối tác tài trợ nhằm tăng chi tiêu chính phủ, từ đó kích thích đầu tư khu vực tư nhân và tăng lượng vốn giải ngân, tập trung vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội trực tiếp nhằm hướng tới các mục tiêu xã hội thay vì các mục tiêu kinh tế.

Trần Anh Tuấn (2003) với bài nghiên cứu “ODA Nhật Bản cho các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, tác giả đã trình bày vai trò, tác động của nguồn vốn ODA đối với các nước nhận viện trợ trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh đó trình bày quan điểm ODA không hiệu quả ở một số nước, từ đó kiến nghị một số bài học rút ra cho Việt Nam.

Nguyễn Ngọc Sơn (2008) với đề tài “Tiết kiệm – đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, nghiên cứu đưa ra kết luận có tồn tại mối quan hệ giữa tiết kiệm – đầu tư và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, nghiên cứu cũng trình bày các giải pháp nâng cao hiệu quả của tiết kiệm – đầu tư góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

Nguyễn Thị Huyền (2008) với đề tài “Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, bài nghiên cứu tập trung phân tích hoạt động khai thác nguồn vốn ODA và vai trò của nguồn vốn này trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

Bùi Đình Viện (2009) lược khảo về ODA của Úc dành cho Việt Nam, trong đó tác giả nêu ra các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ giải ngân ODA thấp: (i) sự khác nhau về thủ tục giải ngân giữa các nhà tài trợ và địa phương triển khai dự án, (ii) tốc độ giải ngân phụ thuộc vào chất lượng thiết kế dự án, trong khi thiết kế không phù hợp với thực tế triển khai, (iii) cơ cấu tổ chức quản lý dự án phụ thuộc vào các nhà thầu của Úc, (iv) sự hạn chế năng lực của cán bộ dự án. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các giải pháp giải quyết, cụ thể là hài hòa hóa các thủ tục, sắp xếp cân đối lĩnh vực ưu tiên tài trợ ODA với các mục tiêu của Việt Nam, đề nghị Úc xem xét trong tương lai hỗ trợ Việt Nam thông qua các khoản tín dụng ưu đãi khi nguồn ODA ngày càng giảm, đề nghị phía tài trợ trao quyền tự chủ quản lý các dự án cho phía Việt Nam.

Hồ Hữu Tiến (2009) chỉ rõ các nguyên nhân và nêu ra những ưu điểm và  nhược điểm trong vấn đề quản lý ODA của Việt Nam, đồng thời đề ra các giải pháp cho chính phủ trong quản lý và sử dụng ODA.

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2013) có công trình nghiên cứu với đề tài: “Thu hút và sử dụng tốt nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài”. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số giải pháp hữu ích trong cách tiếp cận và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam. Phạm Thúy Hồng (2014) có bài nghiên cứu “Nguồn vốn ODA của Nhật Bản và  phát triển kinh tế của Việt Nam”. Bài nghiên cứu lược khảo các thành tựu đạt được và các hạn chế còn tồn tại liên quan đến nguồn vốn ODA của Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam hiện nay.

Như vậy, với bộ dữ liệu khác nhau và áp dụng các phương pháp ước lượng khác nhau, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến đề tài cho thấy tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đến tăng trưởng kinh tế ở  mỗi quốc gia là khác nhau. Ngoài ra, tùy vào bối cảnh đặc điểm kinh tế của từng quốc gia và tùy vào từng giai đoạn thời gian cụ thể thì nguồn vốn ODA có tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế. Nguồn vốn ODA có thể tác động tích cực, tác động tiêu cực hoặc không tác động đến tăng trưởng kinh tế, hoặc nguồn vốn ODA chỉ tác động đến tăng trưởng kinh tế trong những điều kiện nhất định. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tác động của nguồn vốn ODA đến tăng trưởng kinh tế cũng là vấn đề nghiên cứu cần quan tâm.

Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy một số nghiên cứu sử dụng mô hình với dữ liệu chuỗi thời gian đã bộc lộ những hạn chế do số lượng mẫu quan sát ít nên kết quả ước lượng có thể bị thiên lệch và sử dụng để dự báo sẽ không chính xác. Do đó, các nghiên cứu sử dụng dạng dữ liệu bảng sẽ khắc phục được những nhược điểm của dữ liệu chuỗi thời gian. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây với dữ liệu bảng của nhiều quốc gia đã tồn tại vấn đề đó là mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng như là: thể chế, sự ổn định kinh tế vĩ mô, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, trình độ lực lượng lao động, khả năng hấp thụ nguồn vốn ODA… khi gộp dữ liệu các quốc gia lại mà không xem xét đến đặc điểm riêng này thì hồi quy sẽ cho kết quả ước lượng bị thiên lệch. Vì vậy, để khắc phục nhược điểm của các nghiên cứu trước đây gặp phải thì luận án sử dụng dữ liệu dạng bảng với mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia đang phát triển trên thế giới có nhiều điểm tương đồng với nhau như: về mức thu nhập, mức độ phát triển kinh tế, dân số, trình độ phát triển con người… và những quốc gia đang phát triển này có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam để có thể so sánh. Bên cạnh đó, luận án có xem xét đến vấn đề đặc điểm riêng của các quốc gia trong kỹ thuật xử lý dữ liệu nghiên cứu. Cùng với đó, mô hình nghiên cứu được xây dựng sao cho đánh giá được tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế trong điều kiện xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn ODA.