Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội

 

a.  Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở việc Nhà nước trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành pháp luật quy định các chế độ bảo hiểm xã hội, và kiểm tra việc thực hiện các quy định đó.

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn, nó ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do vậy, Nhà nước luôn dựa vào điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng giai đoạn mà quy định  chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội cho phù hợp với thực tiễn của đất nước. Bên cạnh việc quy định chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương, Nhà nước khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Việc Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội không phải là loại bỏ sự tham gia của quần chúng lao động. với tư cách là người đại diện cho tập thể những người lao động, công đoàn trung ương được quyền tham gia với chính phủ trong các vấn đề : xây dựng điều lệ, thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội, ban hành quy chế về tổ chức, hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội. Các công đoàn địa phương và cơ sở tham gia cùng với các cấp chính quyền và người sử dụng lao động trong việc thực hiện và giám sát việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội.

b.  Thực hiện bảo hiểm xã hội dựa trên cơ sở phân phối theo lao động, lấy số đông bù số ít 

Bảo hiểm xã hội là một trong các hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải phải dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động. Có nghĩa là mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp… sẽ căn cứ vào thời gian đóng góp bảo hiểm xã hội dài hay ngắn, mức tiền lương cao hay thấp, việc mất sức lao động nhiều hay ít. Tuy nhiên, vì là một trong những lĩnh vực thuộc bảo đảm xã hội, nên bên cạnh nguyên tắc phân phối theo lao động còn phải thực hiện nguyên tắc tương trợ, lấy số đông bù số ít. Có như vậy mới đạt được ý nghĩa xã hội và nhân văn của bảo hiểm xã hội.

c.   Thực hiện  bảo hiểm xã hội cho mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động và cho mọi người lao động

Nguyên tắc này đảm bảo cho người lao động dù làm việc trong thành phần kinh tế nào khi hội đủ những điều kiện, dấu hiệu phát sinh quan hệ bảo hiểm xã hội thì đều được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác v.v. . . . Mặt khác, nó thể hiện được ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội áp dụng rộng rãi cho mọi người lao động mà không có sự phân biệt nào. Tuy nhiên, việc quy định số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội nhiều hay ít còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của đất nước.

d. Bảo đảm tính ổn định và liên lục của quan hệ bảo hiểm xã hội

Trong cơ chế thị trường, Người lao động có thể làm việc cho một hoặc nhiều người sử dụng lao động khác nhau. Do đó, sự biến động của quan hệ lao động là điều không thể tránh khỏi. Tuy vậy, phải bảo đảm tính thống nhất và liên tục về thời gian của cả hệ thống bảo hiểm xã hội. nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến phá vỡ quan hệ trong bảo hiểm xã hội. Chính sách bảo hiểm xã hội là thống nhất, song phải đảm bảo một mặt người lao động được di chuyển lao động dễ dàng, mặt khác lại khuyến khích được sự ổn định đội ngũ lao