Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

 

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, trong đó bao gồm cả những nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài.

1. Những nhân tố bên trong:

1.1. Các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

Có thể nói nghĩa vụ tài chính của DNBH là nhân tố then chốt quyết định sự lựa chọn các hình thức đầu tư của công ty bảo hiểm, đặc biệt là nghĩa vụ đối với khách hàng( người được bảo hiểm).Nghĩa vụ này được quy định tại các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Hình thức đầu tư của DNBH sẽ phụ thuộc vào bản chất các nghĩa vụ của DNBH đối với khách hàng.

Nguồn vốn đem đi đầu tư của DNBH phần lớn lấy từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ; Do đó để đảm bảo quyền lợi của khách hàng cũng như đảm bảo khả năng thanh toán của công ty thì DNBH khi đầu tư không chỉ tính đến lợi nhuận mà cón phải đảm bảo khả năng đáp ứng cao trách nhiệm đối với người được bảo hiểm. Nếu như không có sự quản lý hoạt động đầu tư một cách chặt chẽ, DNBH sẽ có xu hướng tìm kiếm các hình thức đầu tư sao cho thu được lợi nhuận cao nhất trên cơ sở tài sản tài chính hiện có.

Cũng như DNBH phi nhân thọ, DNBH nhân thọ có hai nghĩa vụ tài chính chủ yếu là :

  •  Trách nhiệm đối với người được bảo hiểm
  •  Trách nhiệm đối với cổ đông.

Bản chất của nghĩa vụ tài chính đối với người được bảo hiểm ở DNBH nhân thọ có ảnh hưởng lớn đến chính sách đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là đến việc lựa chọn các tài sản được coi là đảm bảo cho nghĩa vụ đó. Nhìn chung, nghĩa vụ tài chính với người tham gia bảo hiểm của DNBH nhân thọ có thời hạn dài hơn so với DNBH phi nhân thọ, nhất là những nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có liên quan đến việc cung cấp sản phẩm tiết kiệm và hưu trí dài hạn.
Điều này có nghĩa là giới hạn thời gian cho việc đầu tư các quỹ của người tham gia bảo hiểm nhân thọ dài hạn hơn nhiều so với trong bảo hiểm phi nhân thọ.Thêm nữa, các luồng tiền thu vào (inflow) từ phí bảo hiểm nhân thọ tương đối ổn định do phí đã được tính trước và được thu định kỳ hoặc một lần. Do đó DNBH nhân thọ không phải lo lắng quá nhiều về tính thanh khoản của các tài sản trong danh mục đầu tư của mình.

1.2.Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm

Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các hình thức đầu tư :
Các DNBH có vốn đầu tư lớn sẽ có phạm vi lựa chọn đầu tư rộng hơn, có khả năng đầu tư vào nhiều danh mục khác nhau, đặc biệt là khi có quy định tỷ lệ đầu tư tối thiểu với một số lĩnh vực như bất động sản, trái phiếu chính phủ …Ngược lại với những DNBH có vốn đầu tư với quy mô nhỏ hơn.
Mức độ thanh khoản của các tài sản tài chính sẽ phụ thuộc vào quy mô đầu tư vào tài sản đó của DNBH so với quy mô của toàn thị trường.Ví dụ, một DNBH nhỏ thì do tài sản đầu tư có gía trị nhỏ nên khi cần họ có thể bán ngay ra thị trường mà không lo làm rối loạn thị trường, đảm bảo tính thanh khoản để có tiền mặt chi tiêu.Trong khi đó, với một DNBH lớn, nắm giữ một giá trị lớn cùng loại tài sản đầu tư đó , khi cần nếu bán ra thị trường có thể bị ảnh hưởng đáng kể do khi bán hàng với số lượng lớn thường bị giảm giá. Trong trường hợp này, tài sản đầu tư đó có thể coi là không đủ tính thanh khoản cần thiết.

1.3. Chính sách phân phối lợi nhuận

Nhân tố này ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, khi doanh nghiệp ký kết những hợp đồng bảo hiểm có cam kết chia lãi như sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời, hỗn hợp và niên kim..

-Nếu thị trường bảo hiểm địa phương có tập quán phân phối lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm dươí hình thức chia lãi bằng tiền mặt hàng năm thì DNBH sẽ chú trọng hơn vào mức thu nhập ngắn hạn từ việc đầu tư.

-Ngược lại, nếu việc phân phối lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm nhân thọ được thực hiện chủ yếu dưới hình thức bổ sung vào số tiền bảo hiểm hoặc trả thưởng vào thời điểm kết thúc hợp đồng bảo hiểm thì DNBH ít quan tâm đến lợi nhuận đầu tư ngắn hạn và tập trung vào đầu tư dài hạn.

1.4.Các quan điểm đầu tư của nhà quản lý .

Hoạt động đầu tư chịu tác động bởi nhiều nhân tố, nhưng quyết định đầu tư cuối cùng: đầu tư vào đâu, đầu tư dưới hình thức nào và giá trị bao nhiêu … là do người chịu trách nhiệm quản lý đầu tư quyết định trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Nếu người quản lý đầu tư là những người thận trọng thì họ thiên về lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro thấp. Ngược lại nếu họ là những người ưa mạo hiểm, họ sẽ có xu hướng lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn nhưng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng sẽ lớn hơn rất nhiều.

Thực tế cho thấy rằng quan điểm quản lý đầu tư ở các thị trường bảo hiểm khác nhau là khác nhau. Điều này có ảnh hưởng tới hội đồng quản trị của các công ty bảo hiểm với tư cách là những người đặt ra các giới hạn chung cho chính sách đầu tư của công ty. Do chịu cùng một sức ép , các chính sách đầu tư nhìn chung có xu hướng tương tự nhau giữa các DNBH hoạt động trên cùng một thị trường.

Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy các triết lý hay quan điểm đầu tư không tách biệt với bối cảnh quy mô và tốc độ phát triển của thị trường vốn. Các thị trường vốn có quy mô lớn thường có sự tham gia tích cực của các công ty bảo hiểm. Các khu vực tài chính tự do và năng động hơn thường sẽ tạo ra các tập quán quản lý đầu tư thiếu thận trọng hơn.

2.Những nhân tố bên ngoài :

Cũng như bất kỳ một hoạt động kinh tế nào khác , hoạt động đầu tư của DNBH luôn chịu tác động của các nhân tố môi trường bên ngoài như môi trường pháp lý, môi trường kinh tế -xã hội-chính trị…

2.1. Chế độ thúê của Nhà nước .

Thuế là một nhân tố bên ngoài quan trọng có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động đầu tư của DNBH, cụ thể như sau:
Nếu thuế suất áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư khác với thúê suất áp dụng đối với thu nhập từ lãi vốn thì điêù đó sẽ làm ảnh hưởng tới việc lựa chọn hình thức đầu tư.

Nếu thu nhập từ lãi vốn đầu tư không bị đánh thúê thì điều này có thể làm thay đổi tính hấp dẫn của các tài sản tài chính khác nhau.
DNBH sẽ tăng giá trị đầu tư vào những lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích thông qua việc giảm thuế .

Nhà nước khuyến khích đầu tư cho nền kinh tế bằng chính sách ưu đãi không không đánh thuế đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nếu lợi nhuận đó được đem tái đầu tư. Khi đó các DNBH sẽ có xu hướng để lại nhiều lợi nhuận sau thuế bổ sung vào vốn điều lệ, tăng nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp.

2.2.Các điều kiện của thị trường vốn.

Quy mô của các thị trường vốn và thị trường tài chính trong nước có tác động quan trọng tới sự lựa chọn các hình thức đầu tư. Các thị trường vốn được tổ chức tốt có thể cung cấp một phạm vi rộng rãi các tài sản tài chính sẵn có và điều này được thể hiện trong danh mục đầu tư của các công ty bảo hiểm. Nếu thị trường vốn phát triển không đầy đủ , sự lựa chọn hình thức đầu tư sẽ bị hạn chế( Điều này thể hiện rất rõ ở thị trường Việt Nam trong những năm qua: Từ năm 2000, chúng ta đã có thị trường chứng khoán nhưng quy mô vẫn còn nhỏ và hoạt động chưa hiệu quả.

2.3. Một số công cụ quản lý khác của Nhà nước.

DNBH không thể tự do đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi của mình mà luôn chịu sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước phải có những hạn chế pháp luật đối với hoạt động đầu tư của DNBH, định hướng đầu tư , đưa ra những danh mục đầu tư nhất định, thậm chí giới hạn mức đầu tư tối đa , tối thiểu.
Thực tế, nguồn vốn của DNBH là rất lớn và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên Nhà nước cần phải quản lý hoạt động đầu tư của DNBH nhằm mục đích:

+ Bảo vệ người tham gia bảo hiểm;
+Định hướng sự lưu chuyển của các quỹ đầu tư ;
+Giảm nguy cơ tập trung quyền lực trong lĩnh vực tài chính;