Các nhân tố ảnh hưởng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

– Loại hình kế toán áp dụng

* Kế toán tĩnh: Là loại hình kế toán dựa trên giả thuyết định kỳ doanh nghiệp có thể bị phá sản. Kế toán tĩnh do các chuyên gia luật phá sản ở Châu Âu xây dựng vào khoảng thế kỷ XII đến XVII. Theo luật phá sản này thì quá trình hoạt động của các doanh nghiệp là không liên tục. Vì thế, tại bất kỳ một thời điểm nào cung cấp thông tin thì giá trị tài sản đều được thể hiện theo giá thị trường. Các dịch vụ phi vật chất thì sẽ không được vốn hóa do không thể bán, không có giá trị khi doanh nghiệp phá sản nên không ghi nhận là tài sản mà ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phát sinh.

Trong mô hình này, thông tin kế toán nói chung và thông tin kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng chủ yếu dựa trên kiểm kê, đánh giá do vậy thông tin chi phí sản xuất được xác định chủ yếu theo từng kỳ. Trong mô hình kế toán tĩnh rất chú trọng đến tài khoản kế toán, vì vậy cần phải có bản kê tài sản mà của doanh nghiệp. Do đó, kế toán tĩnh phản ánh trung thực giá trị tài sản nhưng chưa đánh giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh.

* Kế toán động: Loại hình kế toán động hình thành và trở nên phổ biến từ cuối thế kỷ XIX thay thế cho tư tưởng và thông lệ kế toán tính trước đây.

Các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính bao gồm chủ sở hữu, chủ nợ và các đối tượng có lợi ích liên quan. Hệ thống khái niệm, nguyên tắc kế toán được hình thành một cách đồng bộ trên nền tảng giả định hoạt động liên tục. Trong loại hình kế toán này, các phương pháp kế toán hình thành khá đồng bộ với quy trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán. Theo đó, thông tin kế toán nói chung và thông tin kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng được ghi nhận theo giá gốc và chi phí được ghi nhận trên cơ sở giao dịch, sự kiện được ghi nhận theo nguyên tắc cơ sở dồn tích, phù hợp…

Kế toán Việt Nam được hình thành từ kháng chiến chống Pháp, trải qua quá trình phát triển cho đến nay đã thiết lập được hệ thống khuôn khổ pháp lý về kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế thị trường trong điều kiện mở cửa, hội nhập các nước trên thế giới. Đặc biệt sau lần cải cách Hệ thống kế toán theo cơ chế thị trường vào năm 1995, kế toán Việt Nam được thiết kế theo mô hình kế toán động cả kế toán tài chính cũng như kế toán quản trị. Do vậy, các nội dung kế toán được trình bày, phân tích trong luận án được tác giả dựa trên quan điểm kế toán động. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp dưới góc độ kế toán tài chính cũng như kế toán quản trị.

  • Quy mô và phạm vi địa bàn hoạt động của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng lớn đến tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm thông qua khối lượng công việc kế toán, điều này sẽ ảnh hưởng đến tổ chức nhân sự kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong việc tổ chức theo dõi, tổng hợp và cung cấp thông tin chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho các nhà quản trị. Ngoài ra, địa bàn sản xuất cũng liên quan đến tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, để đảm bảo cho yêu cầu cung cấp thông tin, hiệu quả, tiết kiệm doanh nghiệp tiến hành tổ chức người làm kế toán, phương pháp ghi chép, vận dụng chính sách, chế độ kế toán tại các bộ phận sản xuất cho phù hợp. Đối với doanh nghiệp sản xuất tập trung, thông tin ban đầu về chi phí sản xuất có thể chuyển thẳng lên phòng kế toán để kế toán tiến hành ghi chép xử lý và cung cấp thông tin, còn đối với doanh nghiệp sản xuất phân tán, thông tin kế toán có thể được thu nhận và kế toán ban đầu gửi về cho kế toán trung tâm hoặc thực hiện toàn bộ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại địa điểm sản xuất.

  • Đặc điểm quản lý và tổ chức sản xuất

Việc phân cấp quản lý cũng ảnh hưởng đến tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp, tùy thuộc việc phân cấp quản lý kinh tế, các doanh nghiệp có thể tiến hành tổ chức bộ máy kế toán theo loại hình tập trung, phân tán, vừa tập trung vừa phân tán cho phù hợp. Đảm bảo thông tin kế toán được cung cấp chính xác, kịp thời cho các nhà quản trị.

  • Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất

Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến tổ chức kế toán tại các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sản xuất khác nhau sẽ có đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất hoàn toàn khác nhau. Tùy thuộc đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, doanh nghiệp tiến hành tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm  cho phù hợp trên cơ sở góc độ kế toán tài chính cũng như kế toán quản trị. Doanh nghiệp tiến hành tổ chức bộ máy kế toán theo dõi phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, tùy thuộc yêu cầu nhà quản trị bộ máy kế toán có thể tổ chức bộ máy kế toán tài chính, kế toán quản trị riêng rẽ hoặc hỗn hợp đảm bảo thông tin cung cấp kịp thời cho nhà quản trị. Cùng với tổ chức bộ máy kế toán, doanh nghiệp tiến hành tổ chức, vận dụng các phương pháp kế toán ghi nhận chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm từ thu thập, xử lý cho đến cung cấp thông tin. Căn cứ đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hoặc phức tạp, qua một hoặc nhiều giai đoạn chế biến…) doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp (theo từng giai đoạn, quy trình công nghệ, từng loại sản phẩm…). Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tiến hành xây dựng phương pháp thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho phù hợp.