Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Môi trường pháp lý về kế toán

Tổ chức công tác kế toán của các DN nói chung, DNNVV nói riêng được xây dựng dựa trên quy định pháp lý về kế toán, như Luật kế toán 2015, Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính quy định chế độ kế toán DN, Thông tư 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán DNNVV, các văn bản pháp lý trên ảnh hưởng đến TCCTKT của các DNNVV như tiêu chuẩn lựa chọn kế toán viên, kế toán trưởng, hành vi của kế toán viên, lựa chọn CSKT, chứng từ kế toán, hệ thống TKKT, sổ kế toán và hệ thống BCTC…

Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán

Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, yêu cầu tin học hóa trong công tác kế toán và nhu cầu đáp ứng thông tin kịp thời, mọi không gian và thời gian đòi hỏi DN tính toán áp dụng khi TCCTKT trong khả năng tài chính và quy mô đặc điểm của DN. Công nghệ thông tin là cầu nối giúp rút ngắn thời gian thực hiện công việc trong quá trình thu thập, xử lý và đáp ứng nhanh nhu cầu cung cấp thông tin, ứng dụng CNTT có tác động đến việc thu nhận và xử lý TTKT, đến việc tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức mã hóa đối tượng kế toán, hình thức kế toán áp dụng trong DN. Mức độ áp dụng CNTT của DN càng cao, thì TCCTKT của DN càng hiệu quả, giảm khối lượng công việc kế toán, rút ngắn thời gian thu thập, xử lý TTKT và lập các BCKT.

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán

Tổ chức công tác kế toán nhằm mục đích TTKT cung cấp hữu ích, phù hợp với các đối tượng sử dụng. Các đối tượng sử dụng thông tin trong BCTC thì việc thu thập, xử lý và trình bày dữ liệu phải tuân thủ các quy định của chuẩn mực kế toán, CĐKT hiện hành về mẫu biểu, phương pháp kế toán, đáp ứng đúng thời gian cung cấp thông tin theo yêu cầu của từng đối tượng sử dụng như các cơ quan Nhà nước, nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp… Đối với báo cáo KTQT, thông tin được sử dụng trong nội bộ DN nên việc thu thập, xử lý và trình bày dữ liệu, thời điểm cung cấp tùy vào yêu cầu quản lý khác nhau trong từng đơn vị.

Đối với các DNVVN, khi họ chưa hoặc ít có nhu cầu huy động vốn từ các nhà đầu tư và ngân hàng, thì khi đó, hệ thống kế toán của DNVVN thường đơn giản, BCTC thường không phức tạp, ít chỉ tiêu, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của nhà quản lý và cơ quan thuế. Tuy nhiên, khi DN phát triển và mở rộng SX nhu cầu về vốn ngày càng cao và cần huy động từ ngân hàng hoặc nhà đầu tư. Khi đó, DN phải xây dựng hệ thống kế toán phức tạp hơn để lập được các BCTC để cung cấp thông tin kế toán giúp cho DN thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân hàng và nhà đầu tư đáp ứng nhu cầu huy động vốn của DN.

Như vậy, đối tượng sử dụng TTKT của DN càng đa dạng, quy mô và mức độ yêu cầu về cung cấp thông tin càng lớn, thì TCCTKT của DN càng phức tạp và hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu của đối tượng sử dụng.