Các nhân tố tác động đến việc xuất khẩu hàng may mặc của VN sang EU

 Sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố. Căn cứ vào hệ thống lý luận đưa ra trong mục 2.2.3 thì có đến 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU. Tuy nhiên trong tình hình kinh tế trong nước cũng như thế giới hiện nay, cộng với phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể thấy một số nhân tố sau đây, sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp nhất đến phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU :

- Chính sách vĩ mô của Nhà nước.

Năm 2008, Chính phủ đã thông qua Quyết định 36/2008/QĐ-TTg. Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Trong đó có nhấn mạnh rằng “Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.” Thực tế trong vòng 3 năm vừa qua, Ngành dệt may đã được hỗ trợ rất nhiều, có thể kể đến các chính sách hỗ trợ nguồn vốn vay ngân sách, vốn ODA.. cùng hàng loạt các dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất nguyên liệu, công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may. Ngoài ra, chính phủ còn dành toàn bộ nguồn thu phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt may cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu. Đối với vấn đề ngành may mặc Việt Nam chủ yếu phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài như hiện nay, chính phủ đã ban hành quyết định số 29/QĐ-TTg, ngày 8/1/2010 phê duyệt chương trình phát triển cây bông Việt Nam, theo đó nhà nước sẽ đầu tư kinh phí, giống vốn, chuyển giao công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất bông, từng bước đáp ứng nhu cầu bông trong nước, tạo điều kiện để ngành dệt may tăng trưởng và phát triển ổn định.

Quan điểm ưu tiên cho phát triển xuất khẩu hàng may mặc của Chính phủ còn được thể hiện bằng những nỗ lực của Nhà nước trong việc tăng cường ký kết các hiệp ước, hiệp định song phương, đa phương với các nước trong khu vực EU nhằm mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho hàng may mặc Việt Nam dễ dàng nhâm thập thị trường nước bạn. Cụ thể, hiện nay Chính phủ đang đẩy nhanh việc ký kết Hiệp đinh hướng thương mại tự do ( FTA ) giữa Việt Nam và EU nhằm tạo ra một thị trường EU thông thoáng hơn, giảm bớt các yêu cầu khắt khe từ phía đối tác.

Như vậy có thể thấy từ quan điểm đến thực hiện, Chính phủ đã giành rất nhiều sự ưu đãi cho xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU. Từ sự ưu tiên cùng với những chính sách hỗ trợ này, Hiệp hội dệt may Việt Nam và các doanh nghiệp thành viên sẽ có nhiều cơ hội thực hiện những bước nhảy vọt trong phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU. Đặc biệt là khi thời gian ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đang tới gần.

- Năng lực sản xuất của ngành may mặc Việt Nam

Năng lực sản xuất của ngành may mặc Việt Nam có ưu điểm lớn nhất đó là ưu thế về nguồn cung lao động luôn dồi dào, tiền thuê nhân công lại thấp. Điều này được thể hiện qua con số lao động được sử dụng trong ngành may mặc lên đến gần 1,5 triệu người năm 2009. Sở dĩ ngành dệt và ngành may nước ta sử dụng nhiều lao động sống như thế là do công nghệ sản xuất ở nước ta chủ yếu vẫn phụ thuộc nhiều vào con người. Các loại máy móc tự động hóa hoàn toàn chiếm tỷ lệ rất thấp. Thực tế hiện nay năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn nhất của ngành may mặc Việt Nam. Điều này lý giải vì sao, hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn là thực hiện gia công cho nước ngoài, hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được. Ngoài ra, việc chưa thể xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành may Việt Nam tại thị trường nước ngoài đã làm cho sản phẩm may mặc của chúng ta chưa đi sâu vào tâm thức người tiêu dùng đồng thời chúng ta cũng không chủ động được kênh phân phối và thị trường tiêu thụ.

Năng lực sản xuất thấp ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam. Không những kéo giảm sản lượng sản xuất hàng năm mà vì năng lực sản xuất kém, hàng may mặc của Việt Nam còn nhiều hạn chế về mẫu mã và chất lượng. Vì thế, nếu được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành may Việt Nam có thể phát huy hết được tiềm năng về lao động và chất lượng.

Thực trạng này đã lý giải vì sao từ khi thâm nhập thị trường EU cho đến nay, vẫn chưa có doanh nghiệp may mặc nào của nước ta ký kết nổi hợp đồng 1 triệu USD. Những đơn hàng đặt gia công giá trị thấp vẫn là chủ yếu. Nếu không nhanh chóng tạo bước đột phá trong việc nâng cao năng lực sản xuất của ngành thì mãi mãi chúng ta chỉ thực hiện được những hợp đồng nhỏ lẻ, giá trị thấp. Phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU vì thế mà sẽ chững lại.

- Năng lực của ngành công nghiệp phụ trợ

Bông là nguồn nguyên liệu chính của dệt may, tuy nhiên do ngành công nghiệp phụ trợ của nước ta còn chưa phát triển nên lượng bông hàng năm chưa thể đáp ứng nhu cầu trong nước. Không chỉ dừng lại ở bông, các nguồn nguyên liệu khác như vải, sợi, phụ liệu khác cũng trong tình trạng tương tự

Như vậy, thực tế ngành dệt may Việt Nam bị phụ thuộc khá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, với giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu thường chiếm đến 70-80% so với kim ngạch xuất khẩu. Tuy đã chú trọng đầu tư về công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn nhưng nguyên phụ liệu sản xuất trong nước hoặc không đủ cho nhu cầu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn của khách hàng nước ngoài. Vậy nên giá trị thực tế mà ngành dệt may thu được không hề cao so với con số kim ngạch xuất khẩu. Điều này lý giải tại sao tuy giá trị của ngành dệt may cao nhưng cả chủ và thợ trong ngành lại không mặn mà lắm với công việc. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã có sự chuyển hướng sang các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác. Nếu không mau chóng cải thiện tình hình này có thể sẽ làm suy giảm quy mô của ngành, gây ảnh hưởng xấu đến phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU.