Các phương pháp thi hành chính sách ngoại thương

“Chính sách ngoại thương là tổng thể các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, khoa học kỹ thuật, hành chánh và luật pháp của một quốc gia dùng để thi hành các mục tiêu đã đề ra trong lĩnh vực ngoại thương của quốc gia mình trong một thời kỳ nhất định nào đó.”
Định hướng phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có thể khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoại thương phải thay đổi để đạt được những thành tựu cụ thể của chính sách phát triển kinh tế. Không có chính sách ngoại thương chung cho tất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc và hơn thế nữa đối với từng đất nước, chính sách ngoại thương có thể biến đổi cho mỗi thời kỳ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Điều chung nhất chính sách ngoại thương của các nước là phải vận dụng hiệu quả tài nguyên, có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, và tăng trưởng ra thị trường thế giới.
Hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay đang là tiêu điểm chung của các nền kinh tế, hội nhập vừa đem lại cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng là những ràng buộc, những thách thức. Chính sách ngoại thương phải là những chính sách rất linh hoạt, khéo léo, phù hợp với nhu cầu lợi ich quốc gia, thích ứng với cam kết khu vực kinh tế, cũng như tuân thủ các qui định, cam kết, luật lệ chung của thế giới.
Để thực hiện các chính sách ngoại thương, các chính phủ thường thi hành theo các phương pháp khác nhau, có hai phương pháp tiêu biểu.

a. Phương pháp tự định.

Chính phủ đơn phương đưa ra các biện pháp ngoại thương khác nhau, các điều chỉnh với mức độ khác nhau trong các quan hệ buôn bán với nước ngoài trên cơ sở thực hiện được quyền độc lập, tự quyết, lợi thế cho hoạt động phát triển kinh tế của quốc gia mình. Các biện pháp này không tham khảo ý kiến và không cần sự đồng thuận của các quốc gia liên quan.

b. Phương pháp thương lượng.

Khi đưa ra biện pháp mới chính phủ sẽ thương lượng với chính phủ các nước khác có tham gia trong quan hệ buôn bán, mậu dịch để cùng thỏa thuận, thống nhất các biện pháp thúc đẩy mậu dịch cũng như các giới hạn nếu có để các bên đều có lợi.
Phương pháp này được thực hiện dưới hình thức ký kết những điều ước, hiệp định mậu dịch tự do song phương hay đa phương.