Các quan hệ kinh tế quốc tế trong phát triển xuất khẩu nông sản của quốc gia thành viên trong điều kiện hình thành AEC

Trong quá trình hội nhập KTQT, các mối quan hệ kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và nông sản nói riêng của một quốc gia. Khi xuất khẩu hàng hóa sang một nước nào đó có nghĩa là hàng hóa đã xâm nhập vào một thị trường khác và nhà xuất khẩu sẽ phải đối mặt với những rào cản như thuế nhập khẩu hay vấn đề về hạn ngạch nhập khẩu. Các rào cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ kinh tế song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.

Trong khi đó, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay đã tạo điều kiện cho nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau như ASEAN, APEC, EU,… được hình thành, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa các nước và các khối kinh tế đã được ký kết với mục tiêu là giảm thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá và thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế giới ngày càng phát triển. Đây sẽ là tác nhân tích cực hay là rào cản với một quốc gia khi thâm nhập vào thị trường khác hoàn toàn phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia. Như vậy, với một quốc gia nếu có được những mối quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong nước nhằm tăng KNXK. Song để làm được điều này thì quốc gia đó cần tăng cường tham gia vào các liên minh kinh tế cũng như việc ký kết các hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương với các khối và các quốc gia khác.

Tất cả các quốc gia đều nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với các nước trong khu vực, trong bối cảnh đó, chính sách thị trường của mỗi nước không thể đi ngoài xu hướng chung của khu vực. Trong chính sách đối ngoại của mình, định hướng thị trường phù hợp sẽ là hướng ngoại, trước hết là nhằm vào khu vực Châu Á, kết hợp chặt chẽ với hướng nội, nhằm thoả mãn mọi nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đồng thời, giữ những tỷ lệ cơ cấu thích hợp về thị trường quan hệ thương mại với các nước có thế lực kinh tế mạnh như Nhật Bản, Mỹ, EU… để giữ thế cân bằng của nước CHDCND Lào trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, việc khai thác các thị trường này chưa được đầy đủ và toàn diện.

Chúng ta biết rằng, chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất và hàng hóa xuất khẩu phải gắn liền với chính sách chuyển dịch cơ cấu thị trường cho phù hợp với yêu cầu khách quan của nhu cầu thị trường, cũng như để bảo đảm cho sự phát triển sản xuất trong nước đúng với nhu cầu đích thực của thị trường, chứ không phải nằm trong chiến lược gây rối loạn thị trường và sản xuất của những thế lực kinh tế không thân thiện với nước CHDCND Lào về lâu dài.

Về nguyên tắc, nếu đúng là nhu cầu khách quan của thị trường thì việc mở rộng theo bất kỳ hướng nào để tăng kim ngạch xuất khẩu đều là có lợi. Nhưng vấn đề phải nghiên cứu ở chỗ: phải biết được để tránh mở rộng về hướng thị trường có tiềm ẩn những nguy cơ bất lợi cho nước CHDCND Lào về lâu dài và tăng cường về phía những thị trường ổn định và bền vững. Muốn vậy, cần quan tâm tới các cơ chế, chính sách, các hoạt động có liên quan trực tiếp tới xuất khẩu. Trong phần này, tác giả sẽ không đi vào đánh giá những mặt tích cực, hạn chế của các nhân tố thị trường nói chung cũng như việc phân đoạn thị trường cụ thể; mà chỉ tập trung nêu tóm tắt một số yếu tố, vừa thuộc về môi trường vĩ mô, vừa thuộc về chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu và coi đây như là những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa nói chung, những mặt hàng chủ lực nói riêng.

+ Quan hệ hợp tác thương mại với các nước, các thị trường khu vực và quốc tế phải gắn với xuất khẩu hàng hóa. Để làm được điều này thì cần có sự điều chỉnh hợp lý về chính sách xuất khẩu hàng hóa với chính sách nhập khẩu các loại hàng hóa khác ở cùng một thị trường. Cơ chế hàng đổi hàng có khả năng được phát huy tác dụng trong trường hợp này;

+ Mở rộng cam kết song phương và đa phương cấp Chính phủ về xuất khẩu hàng hóa chính là cơ sở quan trọng, mang tính ổn định lâu dài trong điều kiện hàng hóa xuất khẩu của nước CHDCND Lào có sức cạnh tranh cao, phù hợp với yêu cầu thị trường quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, cần lưu ý là các cam kết này đôi khi gắn với những điều kiện nhất định về kinh tế – chính trị – xã hội; do vậy, phải tính toán đầy đủ, toàn diện khi đi đến ký kết để bảo đảm hiệu quả tổng hợp của hoạt động xuất khẩu;

+ Khai thác hình thức hàng trả nợ nước ngoài bằng những mặt hàng chủ lực. Đây là thị trường đã có địa chỉ; do vậy những nỗ lực về cả hai phía sẽ tạo khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước CHDCND Lào. Tuy nhiên, cần tính đến các phương thức trả nợ, nhất là về thủ tục, phương tiện thanh toán;

+ Vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao và thương mại của nước CHDCND Lào ở nước ngoài là hết sức quan trọng trong việc khai thác, mở rộng quan hệ thương mại nói chung, xuất khẩu hàng hóa nói riêng;

+ Công tác thu thập, xử lý thông tin, dự báo về khả năng thị trường trong nước và nước ngoài để cung cấp cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh; đặc biệt là phát triển thương mại điện tử trong việc cung cấp các cơ hội thị trường xuất khẩu là hướng đi đúng đắn và hiệu quả nhất hiện nay trong việc phát triển thị trường xuất khẩu;

+ Cùng với sự chủ động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa thì việc phát huy vai trò của các Hiệp hội các loại ngành sản phẩm trong chiến lược thị trường xuất khẩu sẽ giúp cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng này.

+ Xúc tiến thương mại trong xuất khẩu hàng hóa: theo đó là hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng hóa tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tốc độ lưu thông hàng hóa, nhằm thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng, tăng thị phần cho hàng hóa qua đó hỗ trợ cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng. Các hoạt động xúc tiến thương mại trong hàng hóa bao gồm:

Hoạt động thu thập và phân tích tất cả các thông tin có liên quan đến các loại hàng hóa của các cơ quan đại diện Chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ quốc gia, các Trung tâm hỗ trợ kinh doanh và các tổ chức xúc tiến thương mại (TPO) do các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng hóa và Nhà nước thành lập.

Xây dựng chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa xuất khẩu mở rộng thị trường tiêu thụ như chính sách thuế, chương trình tín dụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trong việc tìm kiếm khách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài,…

Hoạt động thu thập, phân tích và xử lý thông tin của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, có liên quan đến các phân đoạn thị trường mục tiêu, mức cầu – tiềm năng thị trường, cạnh tranh, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường kinh tế và kinh doanh, môi trường văn hóa xã hội, môi trường kỹ thuật, hệ thống phân phối,…

Lựa chọn chiến lược, kỹ thuật phù hợp với từng loại hàng nông sản để áp dụng vào công tác tiếp thị như quảng cáo, hội chợ, triển lãm, phân phối tài liệu, khuyến mãi,… nhằm tăng thị phần của hàng hóa tại các nước.

+ Môi trường kinh doanh hàng hóa xuất khẩu: môi trường kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nói đến môi trường kinh doanh của một nước là phải nói đến hệ thống pháp luật, chính sách chung và chính sách đặc thù của nước đó đối với hàng hóa, trong đó đặc biệt quan tâm đến đánh giá mức độ tăng trưởng GDP, mức lạm phát, tiền tệ và ngân hàng, vận tải và hệ thống thông tin liên lạc, tăng trưởng dân số của nước đó. Sự nhanh chống gia nhập và rút lui dễ dàng khỏi thị trường của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng hóa là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá sự thông thoáng của môi trường kinh doanh. Các yếu tố xã hội như: an ninh trật tự cũng có ảnh hưởng mạnh đến môi trường kinh doanh. Ngoài ra, các yếu tố về văn hóa, phong tục tập quán,… cũng là những yếu tố không thể thiếu được khi xem xét môi trường kinh doanh của một nước.

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu ra thị trường thế giới không chỉ đơn thuần do doanh nghiệp tạo ra. Để chiếm lĩnh được thị trường thế giới cần có môi trường kinh doanh thông thoáng do Nhà nước tạo ra, hỗ trợ cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa. Để tạo ra môi trường kinh doanh, Nhà nước thường sử dụng các luật và chính sách thương mại, thuế, lãi suất, tỷ giá nhằm mục tiêu giảm chi phí sản xuất, sử dụng việc chi ngân sách cho đầu tư nghiên cứu khoa học – công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng, bằng sử dụng hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế điều chỉnh quan hệ kinh doanh và điều chỉnh việc gia nhập cũng như rút lui khỏi thị trường.

Trong quá trình tự do hóa thương mại, các quốc gia thường sử dụng các công  cụ bảo hộ khác nhau để đảm bảo cho hàng hóa của mình có đủ năng lực cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả ngoài nước, trong đó chính sách tài chính, tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng. Các công cụ thường được các nước sử dụng là thuế xuất nhập khẩu hàng hóa, chính sách tỷ giá hối đoái.