Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại

- Trong lịch sử, tình trạng lạm phát được coi là xảy ra khi nào khối tiền tệ lưu hành quá thưa đối với nhu cầu của nền kinh tế. Để xét đoán tình trạng đó, các nhà kinh tế đã có ba quan niệm kế tiếp nhau trong thời gian. Ba quan niệm nay phù hợp với trình độ hiểu biết càng ngày càng cao hơn về mối tương quan giữa tiền tệ và kinh tế.

1). Quan niệm thứ nhất :

– Cho rằng có lạm phát khi số tiền lưu hành so với trữ kim của ngân hàng phát hành quá nhiều. Tuy quan niệm này ngày nay đã lỗi thời, chúng ta cũng cần xem xét nó.
Vào thời kỳnửa sau thế kỷ 19, khi khi chế độ kim bản vị thịnh hành, quan niệm lạm phát này là một quan niệm thông thường.
Quan niệm này quá đơn giản, bởi vì tỷ lệ bảo đảm là một tiêu chuẩn quá cứng rắn. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ bảo đảm pháp định vẫn được tôn trọng mà lạm phát vẫn xảy ra, bởi vì giá cả mọi thứ đều lên cao, hàng hoá khan hiếm,..v.v..

2). Quan niệm thứ hai :

– Là một quan niệm đã được phổ biến sau cuộc thể chiến thứ nhất kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, quan niệm này có thể coi là một quan niệm tĩnh, về lạm phát, người ta so sánh hai khối : khối hàng hoá và dịch vụ có thể đem bán trên thị trường và khối tiền tệ mànhân dân có thể sử dụng mua hàng.

Nếu hai khối này có giá trị ngang nhau, tính theo mức giá cả hiện hữu, thì không có lạm phát hay giảm phát. Nếu vì lý do gì đó khối tiền tệ tăng thêm trong khi khối hàng hoá và dịch vụ vẫn không thay đổi, tức là áp lực lạm phát xuất hiện. Khối tiền tệ càng tăng thêm thì áp lực lạm phát càng nặng hơn, tình trạng này khiến cho giá mọi hàng hoá, dịch vụ đều tăng cao. Nếu giá đó tiếp tục tăng thì dân cư lại cần nhiều tiền hơn để sản xuất, trao đổi, ..v.v..Do đó ngân hàng lại phải phát hành thêm tiền, các nhà kinh tế gọi là nạn “lạm phát tự dưỡng”.

Quan niệm tĩnh về lạm phát tuy giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho biết rõ nguyên nhân của lạm phát. Chính vì thế mà từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã xuất hiện một quan niệm mới có tính cách động về lạm phát.

3). Quan niệm thứ ba :

-Trong sự tung thêm tiền vào bộ máy kinh tế, cần phân biệt 2 giai đoạn :

+ Giai đoạn 1 : Trong đó nềnkinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng. Trong giai đoạn này, sự tung tiền không hề đưa tới lạm phát, nhưng tới một lúc nào đó sự tắc nghẽn có thể xuất hiện trong một vài lĩnh vực hay trong tất cả các lĩnh vực. Lúc đó người ta bước vào giai đoạn hai, tức là giai đoạn nền kinh tế đã toàn dụng.

+ Giai đoạn 2 : Trong giai đoạn này, nếu người ta tiếp tục tung thêm tiền vào bộ máy kinh tế tất nhiên khối hàng hoá và dịch vụ sẽ không sao tăng bằng khối tiền tệ. Nạn lạm phát lúc đó xảy ra và dấu hiệu của nó là sự tăng gia của mọi giá cả, giá trị của tiền tệ ngày càng giảm bớt.