Các quy định, cam kết quốc tế về di chuyển lao động

Những điều khoản về di chuyển lao động trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATS 1947: nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới. Trong các hiệp định của WTO không có hiệp định nào quy định về sự di chuyển lao động. Tuy nhiên, trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) có đề cập đến việc di chuyển tạm thời của các cá nhân cung cấp dịch vụ. Các cuộc đàm phán về phương thức cung cấp dịch vụ thứ tư (thường gọi là phương thức 4) lần đầu tiên diễn ra tại vòng đàm phán Urugoay được tổ chức từ năm 1 86 đến năm 1 3. iệc di chuyển tạm thời của các tự nhiên nhân với tư cách là người cung cấp dịch vụ theo phương thức 4 của GATS được hiểu là “việc cung cấp một dịch vụ… bởi một người cung cấp dịch vụ thuộc một nước thành viên, thông qua sự có mặt của các tự nhiên nhân thuộc một nước thành viên tại lãnh thổ của một nước thành viên khác”; trong đó, những người cung cấp dịch vụ bao gồm “người cung cấp dịch vụ độc lập và người tự làm thuê cho mình, cũng như các nhân viên nước ngoài trong các công ty nước ngoài được thành lập trên lãnh thổ của một nước thành viên”.

Những điều khoản về dịch chuyển lao động trong các Hiệp định thương mại khu vực

Các hiệp định thương mại khu vực tiếp cận với sự di chuyển của người lao động, hay sự di chuyển lao động theo rất nhiều cách khác nhau. Một số hiệp định đề cập đến sự di chuyển nói chung của con người bao hàm cả di dân và định cư không phải là người lao động; một số khác cho phép sự tự do di chuyển của lao động bao gồm cả quyền tiếp cận thị trường lao động địa phương, “một số khác chỉ giới hạn ở việc tạo thuận lợi cho sự di chuyển của một số kiểu hoạt động liên quan tới thương mại hoặc đầu tư” [2, tr.140]. Dựa vào nội dung của các hiệp định chúng ta có thể chia hiệp định thành các nhóm như sau:

Thứ nhất, những hiệp định quy định về sự di chuyển lao động đầy đủ.

Những hiệp định trong nhóm này có thể kể đến như: Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp định Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA), Hiệp hội thương mại tự do Châu Âu (EFTA); Thị trường chung Đông và Nam phi (COMESA), Hiệp định Quan hệ Kinh tế gần gũi hơn giữa Australia – New Zealand (ANZCERTA). Những hiệp định này có những quy định về di chuyển lao động một cách khá rộng rãi.

Ví dụ Liên minh Châu Âu (EU) trao cho tất cả công dân EU một quyền cá nhân cơ bản được di chuyển và di trú tự do trong lãnh thổ các nước thành viên (tùy thuộc vào một số giới hạn và điều kiện). Các điều khoản trong Hiệp ước Cộng đồng Châu Âu áp dụng với sự di chuyển của người lao động, những người tự làm thuê cho mình, những người cung cấp dịch vụ bao gồm cả những người được điều đi công tác tạm thời tới một quốc gia thành viên khác. Điều 3 Hiệp định này quy định quyền tiếp cận với việc làm ở các nước thành viên khác; quyền cư trú cùng với gia đình và đối xử bình đẳng về điều kiện lao động và lợi ích liên quan đến công việc; quyền thiết lập cơ sở được quy định tại điều 43 bao gồm quyền làm việc như một người tự làm thuê cho mình bằng cách thành lập trung tâm chuyên môn chính hoặc chi nhánh theo những điều kiện giống như áp dụng đối với công dân trong nước; quyền tự do cung cấp dịch vụ được quy định tại điều 4 bao gồm các hoạt động thương mại và công nghiệp, nghề thủ công và các nghề chuyên môn mang tính tạm thời.

Hiệp định khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA) cho phép các công dân thuộc EEA được phép vào bất kỳ một nước thành viên EU nào với tư cách người lao động, người tự làm thuê cho mình, người cung cấp dịch vụ, hoặc người tiếp nhận. Người lao động có thể cư trú hoặc dịch chuyển tự do trong phạm vi các quốc gia EU và các quốc gia tham gia EEA. Hiện tại sự di chuyển tự do của lao động được coi là nguyên tắc cơ bản được quy định tại điều 45 của Hiệp ước quy định chức năng của Cộng đồng Châu Âu và được triển khai cụ thể trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác theo quy định của Tòa án tư pháp.

Theo đó công dân Châu Âu được quyền tìm việc ở một nước EU khác; làm việc ở các nước thành viên EU khác mà không cần giấy phép lao động; cư trú ở các nước thành viên EU khác vì mục đích lao động, tìm kiếm việc làm; ở các nước thành viên EU khác ngay cả sau khi việc làm đã kết thúc; được đối xử bình đẳng trong việc tiếp cận với việc làm, điều kiện làm việc và tất cả các lợi ích xã hội và thuế khác.

Tương tự những hiệp định trên, Hiệp định sửa đổi Công ước thành lập EFTA được đưa vào thực hiện song song với các hiệp định song phương Thụy Sỹ – EU, cũng quy định sự di chuyển tự do của người lao động bao gồm cả những người tự làm thuê cho mình và những người không có nghề nghiệp làm ra tiền nhưng vẫn đủ điều kiện tài chính và những điều kiện khác.

Thị trường chung Đông và Nam Phi cũng đã xây dựng một cộng đồng trong đó hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động được tự do di chuyển giữa các quốc gia. Cộng đồng này đang hướng đến việc triển khai Nghị định thư nới lỏng dần; hướng đến xóa bỏ những yêu cầu về thị thực và một nghị định thư về di chuyển tự do của người dân, lao động và dịch vụ, quyền thiết lập cơ sở và cư trú.

Australia và New Zealand cho phép các công dân của họ được tự do sinh sống và làm việc ở nước kia trong khoảng thời gian không giới hạn. Hai nước này cũng đã ký Hiệp định tự do mậu dịch (ANZCERTA), hiệp định này quy định quyền tiếp cận thị trường đầy đủ và đối xử quốc gia đầy đủ đối với tất cả những người cung cấp dịch vụ.

Thứ hai, những hiệp định quy định về sự di chuyển lao động không đầy đủ (những hiệp định này chỉ quy định quyền tiếp cận thị trường đối với một số nhóm nhất định), bao gồm:

Nghị định thư thứ hai về thiết lập cơ sở, dịch vụ và vốn trong khuôn khổ Cộng đồng Caribe (CARICOM). Nghị định này quy định sự di chuyển tự do của người tốt nghiệp đại học, những nhà chuyên môn khác, những người có tay nghề và một số nghề chọn lọc cũng như quyền tự do đi lại hành nghề.

Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp định Thương mại Tự do Canada – Chile; Hai hiệp định này đều cho phép những người không có ý định định cư lâu dài quyền tiếp cận với bốn nhóm có tay nghề cao là: thương nhân và nhà đầu tư; những người được điều chuyển trong nội bộ công ty; khách doanh nhân và những nhà chuyên môn.

Các hiệp định giữa EU với một số quốc gia như Bulgaria, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lithualia, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Slovenia cho phép các công dân hoặc các công ty được thành lập ở tại lãnh thổ của các bên tham gia, từng bước cung cấp dịch vụ có tính đến sự phát triển của các lĩnh vực dịch vụ đó. Nhập cảnh tạm thời được dành cho các tự nhiên nhân cung cấp dịch vụ, nhân lực chủ chốt và các đại diện của một công ty hoặc công dân EU hoặc các nước Trung và Đông Âu đang tiến hành thương lượng bán các dịch vụ hoặc ký kết các hợp đồng bán các dịch vụ với điều kiện là họ không tham gia vào các hợp đồng bán trực tiếp cho công chúng hoặc tự mình cung cấp dịch vụ.

Hiệp định thương mại tự do Mỹ – Jordan, Hiệp định thương mại tự do EU – Mexico, Hiệp định của Hiệp hội Châu Âu – Địa trung hải (Maroc và Tunisia) các hiệp định này cũng quy định về việc di chuyển của các tự nhiên nhân theo các quy định di chuyển theo phương thức 4 của GATS, có bổ sung thêm một số quy định tạo điều kiện cho di chuyển tự do của lao động nhiều hơn so với GATS. í dụ Hiệp  định thương mại tự do Mỹ – Jordan có các quy định cụ thể cam kết về thị thực đối với cả doanh nhân độc lập và những người liên quan đến đầu tư.

Các quy định của ASEAN về di chuyển lao động. Từ năm 1 8 trong hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN đã đề cập đến việc các bên phải khuyến khích luồng tự do của vốn, lao động có chuyên môn, các chuyên gia, nhưng cam kết này chưa được ký kết và phê chuẩn bởi tất cả các nước thành viên. Năm 2000, ASEAN đã thông qua Kế hoạch hành động trong vấn đề nhập cư với mục đích khuyến khích di cư lao động có kỹ năng, hỗ trợ dòng lao động di cư hợp pháp giữa các quốc gia trong khu vực; đấu tranh với nạn buôn người và buôn lậu. Để hướng tới hội nhập kinh tế sâu hơn, năm 2015 các quốc gia trong khu vực hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN, trong đó có Cộng đồng kinh tế ASEAN. Thoả thuận về công nhận tay nghề tương đương (MRA), tạo thuận lợi cho việc tự do di chuyển và quyền tự do làm việc tại các nước trong khu vực đối với 8 nhóm ngành nghề: bác sĩ, nha sĩ, hộ lý, kỹ sư, kiến trúc sư, kiểm toán viên, giám sát viên và nhân viên du lịch.

Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình dương (APEC) mặc dù không có bất kỳ thỏa thuận cụ thể nào về tiếp cận thị trường liên quan đến di chuyển lao động, tuy nhiên APEC lại có những thỏa thuận nhằm tạo điều kiện cho di chuyển lao động thông qua trao đổi thông tin; đối thoại với doanh nghiệp; xây dựng và áp dụng những tiêu chuẩn về xuất nhập cảnh và tăng cường năng lực để đẩy nhanh  việc xử lý nhập cảnh, cư trú và xuất cảnh tạm thời đối với doanh nhân. Những cải tiến về thủ tục xuất nhập cảnh cho các nhà quản lý cấp cao và giám đốc điều hành doanh nghiệp trong trường hợp điều chuyển nội bộ công ty và các nhà chuyên môn.

Những quy định này giúp tạo điều kiện thông thoáng hơn cho sự di chuyển của một nhóm đối tượng lao động nhất định.

Các thỏa thuận song phương giữa các quốc gia về di chuyển lao động Hiệp định song phương bao gồm các thỏa ước hợp pháp trong hợp tác lao động di cư trên nhiều lĩnh vực. Các dạng của hiệp định song phương bao gồm: Hiệp định lao động song phương; Hiệp định lao động thủy thủ song phương; Hiệp định an ninh xã hội song phương, Hiệp định chống buôn người. Các hiệp định kinh tế song phương có các điều khoản về di cư, ví dụ Hiệp định đối tác kinh tế Philippines

– Nhật Bản. Hiệp định song phương thường được ký kết giữa nước gửi và nước nhận lao động nhưng “cũng có trường hợp là hiệp định ký kết giữa hai nước gửi lao động như trường hợp của Philippines và Indonesia”.

Các hiệp định song phương về di chuyển lao động rất đa dạng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế văn hóa – xã hội của mỗi nước. Các thỏa thuận này có thể quy định về việc điều tiết dòng lao động, ví dụ giữa New Zealand và Singapore có những quy định về di chuyển tự nhiên nhân giống với quy định về di chuyển lao động theo phương thức 4 của GATS; hiệp định Thương mại tự do Nhật Bản – Singapore, áp dụng biện pháp tác động đến sự di chuyển của các tự nhiên nhân của một bên (công dân Nhật Bản, công dân và người định cư lâu dài của Singapore) sang lãnh thổ bên kia vì mục đích kinh doanh bao gồm cả nhà đầu tư.