Các thành phần của quan hệ pháp luật lao động

 

Các thành phần của quan hệ pháp luật lao động gồm:

–           Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động; – Nội dung của quan hệ pháp luật lao động;

–           Khách thể của quan hệ pháp luật lao động.

1.Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động

Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động là các bên tham gia quan hệ pháp luật lao động gồm: người lao động và người sử dụng lao động.

a) Người lao động

Điều 55 Hiến pháp 1992 quy định: “lao động là quyền, nghĩa vụ của công dân”. Như  vậy, công dân là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động.

Tuy nhiên, không phải mọi công dân đều có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách người lao động. Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, công dân hoặc cá nhân ấy  phải thỏa mãn mạn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, những điều kiện ấy trong khoa học pháp lý gọi là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.

Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân quyền có việc làm, được làm việc, được hưởng quyền, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ của người lao động. Các quy định này có thể trở thành thực tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân (hay năng lực hành vi của họ).

Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động.

Năng lực hành vi lao động được thể hiện trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực. Thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động để có thể thực hiện được một công việc nhất định. trí lực là khả năng nhận thức đối với hành vi lao động mà họ thực hiện và với mục đích công việc họ làm. Do đó, muốn có năng lực hành vi lao động, con người phải trải qua thời gian phát triển cơ thể (tức là đạt đến một độ tuổi nhất định) và có quá trình tích lũy kiến thức và kỹ năng lao động (phải được học tập và rèn luyện…)

Pháp luật lao động Việt Nam quy định: người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, đối với một số nghề và công việc (các nghề và công việc này được Bộ lao động, thương binh và xã hội quy định cụ thể) được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản  của cha mẹ, hoặc người đỡ đầu của trẻ em đó thì việc giao kết hợp đồng lao động đó mới có giá trị. Trường hợp này, một bên chủ thể lao động (trẻ em) được xem là người có năng lực hành vi lao động không đầy đủ (hay còn gọi năng lực hành vi lao động một phần).

Ở đây, cần phân biệt trường hợp có năng lực hành vi lao động không đầy đủ với trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật, đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Nhìn chung, những người chưa đến độ tuổi quy định, những người mất trí là người không có năng lực hành vi lao động.

Ngoài ra có một số trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật lao động trong những trường hợp luật định (bị tù giam, bị cơ quan có thẩm quyền cấm đảm nhận một chức vụ, hoặc làm một công việc nào đó…)

Ngoài các đối tượng là công dân Việt Nam, người nước ngoài cũng có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người lao động. Điều 133 Bộ luật lao động ghi nhận “người nước ngoài làm việc từ đủ ba tháng trở lên cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải có giấy phép lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp; thời hạn giấy phép lao động theo thời hạn hợp đồng lao động, nhưng không quá 36 tháng và có thể được gia hạn theo đề nghị của người sử dụng lao động. Người nước ngoài lao động tại Việt Nam được hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác”.

Cần lưu ý những đối tượng người lao động là người nước ngoài như đề cập trên đây là các đối tượng làm việc cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đối với các trường hợp người nước ngoài là cán bộ đi làm công tác ngoại giao, các chuyên gia… không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động, các đối tượng này có văn bản quy định riêng.

b) Người sử dụng lao động

Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, người sử dụng lao động (còn gọi bên sử dụng lao động), chủ thể của quan hệ pháp luật lao động bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần, các cơ quan tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình có tuyển dụng lao động.

Điều 6 Bộ luật lao động quy định: Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động. 

Người sử dụng lao động với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động cũng được xác định năng lực chủ thể trên hai phương diện: năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Năng lực pháp luật của người sử dụng lao động là khả năng pháp luật quy định cho họ có quyền tuyển chọn và sử dụng lao động. Còn năng lực hành vi của người lao động là khả năng bằng chính hành vi của mình, người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn và sử dụng lao động một cách trực tiếp và cụ thể. Hành vi này thường được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp (người đứng đầu đơn vị) hoặc là người được ủy quyền.

Một cách cụ thể, tùy vào từng loại chủ thể mà năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động của người sử dụng lao động có những điều kiện luật định khác nhau:

+ Đối với người sử dụng lao động là các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các cơ quan, tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam khi tham gia quan hệ pháp luật lao động phải có tư cách pháp nhân. Năng lực pháp luật lao động của các cơ quan tổ chức này thể hiện ở quyền được tuyển chọn và sử dụng lao động. Quyền này xuất hiện khi pháp nhân này đươûc thành lập hợp pháp.

+ Đối với người sử dụng là các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp này phải đăng ký kinh doanh và được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, có khả năng đảm bảo tiền công và các điều kiện làm việc cho người lao động. Riêng với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của luật đầu tư nước ngoài (như có giấy phép đầu tư…)

+ Đối với người sử dụng lao động là cá nhân, hộ gia đình muốn tuyển dụng lao động phải thỏa mãn những điều kiện luật định như đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực nhận thức, có khả năng đảm bảo tiền công và điều kiện lao động cho người lao động.

2. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động

Nội dung của quan hệ pháp luật lao động là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động. Trong quan hệ pháp luật lao động, không có chủ thể nào chỉ có quyền hoặc chỉ có nghĩa vụ; quyền của chủ thể này bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia và ngược lại tạo thành mối liên hệ pháp lý thống nhất trong một quan hệ pháp luật lao động. Ngoài ra, các bên còn phải thực hiện và tôn trọng các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định để đảm bảo trật tự, lợi ích xã hội, bảo đảm môi trường lao động và môi trường sống.

Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người lao động, người sử dụng lao động được xác định tùy thuộc mối quan hệ riêng mà họ tham gia, tuy nhiên có thể nêu lên những quyền và nghĩa vụ chung nhất của các bên như sau:

a. Quyền và nghĩa vụ của người lao động a1 – Quyền  của người lao động 

Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động có các quyền cơ bản sau đây:

–         Được trả lương theo số lượng và chất lượng lao động;

–         Được đảm bảo an toàn trong quá trình lao động;

–         Được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;

–         Được nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận giữa các bên;

–         Được thành lập hoặc gia nhập tổ chức Công đoàn;

–         Được hưởng phúc lợi tập thể, tham gia quản lý doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, và theo nội quy lao động của đơn vị;

–         Được đình công theo quy định của pháp luật.

a2 – Nghĩa vụ của người lao động 

Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản sau đây:

–         Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và chấp hành nội quy của đơn vị;

–         Thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và chấp hành kỷ luật lao động;

–         Tuân thủ sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động.

b – Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động  b1 – Quyền  của người sử dụng lao động 

Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động có các quyền cơ bản sau đây:

–         Quyền tuyển chọn, bố trí và điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, công tác;

–         Quyền được cử đại diện để thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể;

–         Quyền khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật;

–         Quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp luật định.

b2 – Nghĩa vụ của người sử dụng lao động 

Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản sau đây :

–         Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các thỏa thuận khác với người lao động;

–         Đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động và các điều kiện lao động khác;

–         Đảm bảo kỷ luật lao động;

–         Tôn trọng nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động, đồng thời phải quan tâm đến đời sống của họ và gia đình họ.

3. Khách thể của quan hệ pháp luật lao động

 Trong một quan hệ pháp luật, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bao giờ cũng nhằm hướng tới một mục đích, một lợi ích nào đó và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật đó. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, người lao động muốn sử dụng sức lao động của mình để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình cho họ; còn bên sử dụng lao động cũng muốn có sức lao động để sử dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ. Như vậy, khi thiết lập quan hệ pháp luật lao động với nhau, các bên đều hướng tới sức lao động của người lao động và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật lao động.

Sức lao động gắn liền với người lao động. Sức lao động được thể hiện bằng hành vi lao động của con người. Thông qua các hành vi lao động mà các chủ thể đạt được những mục đích mong muốn (người lao động nhận được thu nhập, người sử dụng lao động hoàn thành việc sản xuất ra của cải vật chất và thu được lợi nhuận…)


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • xác định thành phần quan hệ pháp luật
  • ,