Các Thủ tục xử lý kỷ luật lao động

 

a)     Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật

Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật lao động tối đa là ba tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm, trường hợp có hành vi vi phạm liên quan đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao đông tối đa là sáu tháng.

b)     Thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật lao động

Khi tiến hành việc xử lý vi phạm kỷ luật lao động, người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động.

Người lao động có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bào chữa.

Khi xem xét xử lý kỷ luật lao động phải có mặt đương sự và phải có sự tham gia của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp.

Việc xem xét xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.

Người bị kỷ luật lao động nếu thấy hình thức kỷ luật lao động đối với mình không thỏa đáng thì có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật. Khi cơ quan có thẩm quyền kết luận về quyết định xử lý của người sử dụng lao động là sai, thì người sử dụng lao động phải hủy bỏ quyết định đó, xin lỗi công khai, khôi phục danh dự và mọi quyền lợi vật chất cho người lao động.

c)  Xóa kỷ luật lao động

Xoá kỷ luật không có nghĩa là xét lại việc thi hành kỷ luật đã qua, cũng không có nghĩa là huỷ bỏ quyết định kỷ luật mà chỉ thừa nhận cho người phạm lỗi hết thời hạn thi hành kỷ luật để họ khỏi bị thành kiến, ảnh hưởng đến sự phấn dấu vươn lên của đương sự.

Theo quy định của pháp luật lao động nước ta thì:

–     Người bị khiển trách sau ba tháng và người bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc chuyển làm công việc khác sau sáu tháng, kể từ ngày bị xử lý, nếu không tái phạm thì đương nhiên được xoá kỷ luật.

–     Người bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc chuyển làm công việc khác sau khi chấp hành được một nửa thời hạn, nếu sửa chữa tiến bộ, thì được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn.

d)  Tạm đình chỉ công việc của người lao động

Tạm đình chỉ công việc của người lao động không phải là hình thức xử lý kỷ luật lao động mà chỉ là một biện pháp cần thiết để xác minh kỷ luật. Người sử dụng lao động được áp dụng biện pháp này “khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh, sau khi tham khảo ý kiến của ban chấp hành công đoàn cơ sở” (Điều 92 Bộ luật Lao động).

Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không quá 3 tháng. Trong thời gian đó, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.

Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bằng mọi cách xác minh được người lao động có lỗi hay không có lỗi trong thời gian tạm đình chỉ công việc của người lao động. hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người lao động phải được tiếp tục làm việc, nếu có lỗi thì bị xử lý kỷ luật nhưng cũng không phải trả lại số tiền đã được tạm ứng và dĩ nhiên cũng chỉ được hưởng theo số tiền đó. Nếu người lao động không có lỗi thì người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công việc, mặc dù tạm đình chỉ tức là người lao động không làm việc.