Các tiêu thức phân loại doanh nghiệp là gì?

Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp : phân theo tính chất hoạt động kinh doanh, theo ngành như: Công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp vv.. phân theo quy mô trình độ sản xuất kinh (doanh doanh nghiệp lớn, ..) Đối với DN cần phải xác định và phân loại theo những tiêu thức riêng mới xác định được đúng bản chất, vị trí và những vấn đề có liên quan đến nó.
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam còn có nhiều bàn cãi, tranh luận và có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi đánh giá, phân loại qui mô DN, nhưng thường tập trung vào các tiêu thức chủ yếu như: vốn, doanh thu, lao động, lợi nhuận, thị phần . Có hai tiêu thức phổ biến thường dùng: Tiêu thức định tính và tiêu thức định lượng.

Tiêu thức định tính như trình độ chuyên môn hoá, số đầu mối quản lí vv..Tiêu thức này nêu rõ được bản chất vấn đề, song khó xác định trong thực tế nên ít được áp dụng.

Tiêu thức định lượng như số lượng lao động, giá trị tài sản, doanh thu lợi nhuận.

Ngoài hai tiêu thức trên còn căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, tính chất ngành nghề, vùng lãnh thổ, tính lịch sử..

Nói chung có 3 tiêu thức đấnh giá và phân loại DN:

1. Quan điểm 1:

Tiêu thức đánh gia xếp loại DN phải gắn với đặc điểm từng ngành và phải tính đến số lượng vốn và lao động được thu hút vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nước theo quan điểm này gồm Nhật Bản, Malayxia, Thái Lan..v..v..trong bộ luật cơ bản về luật doanh nghiệp ở Nhật Bản qui định: Trong lĩnh vực công nghiệp và chế biến khai thác, các DN là những doanh nghiệp thu hút vốn kinh doanh dưới 100 triệu Yên ( tương đương với khoảng 1triệu USD) . ở Malayxia doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn cố định hơn 500.000 Ringgit (khoảng 145.000 USD) và dưới 50 lao động.

2. Quan điểm 2:

DN được đánh giá theo đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành tính đến 3 yếu tố vốn, lao động và doanh thu. Theo quan điểm này của Đài Loan là nước sử dụng nó để phân chia DN có mức vốn dưới 4 triệu tệ Đài Loan (tương đương 1.5 triệu USD) ,tổng tài sản không vượt quá 120 triệu tệ và thu hút dưới 50 lao động.

3. Quan điểm 3:

Tiêu thức đánh giá dựa vào nghành nghề kinh doanh và số lượng lao động .Như vậy theo quan điểm này ngoài tính đặc thù của nghành cần đến lượng lao động thu hút .Đó là quan điểm của các nước thuộc khối EC ,Hàn Quốc , Hong Kong v.v… Ở Cộng hoà liên bang Đức các doanh nghiệp có dưới 9 lao động được gọi là doanh nghiệp nhỏ, có từ 10 đến 499 lao động gọi là doanh nghiệp vừa và trên 500 lao động là doanh nghiệp lớn.
Trong các nước khác thuộc EC, các doanh nghiệp có dưới 9 lao động gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ,từ 10 đến 99 lao động là doanh nghiệp nhỏ, từ 100 đến 499 lao động là doanh nghiệp vừa và các doanh nghiệp trên 500 lao động là doanh nghiệp lớn.

Ở Việt Nam,có nhiều quan điểm về tiêu thức đánh giá DN.Theo qui định của chính phủ thì doanh nghiệp là những doanh nghiệp có số vốn dưới 5 tỉ đồng và dưới 20 lao động.

Ngân hàng công thương Việt Nam đã phân loại DN để thực hiện việc cho vay:DN có vốn đầu tư từ 5 tỉ đến 10 tỉ đồng và số lao động từ 500 đến 1000 lao động.

Hội đồng liên minh các hợp tác xã Việt Nam cho rằng các DN có vốn đầu tư từ 100 đến 300 triệu đồng và có lao động từ 5 đến 50 người.
Theo địa phương ở thành phố Hồ Chí Minh xác định doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỉ đồng,lao động trên 1000 người và doanh thu hàng năm trên 10 tỉ đồng.Dưới 3 tiêu chuẩn trên các doanh nghiệp đều xếp vaò doanh nghiệp nhỏ.
Nhiều nhà kinh tế đề xuất phương pháp phân loại DN có vốn đầu tư từ 100 triệu đến 300 triệu đồng và lao động từ 5 đến 50 người ,còn những doanh nghiệp vừa có mức vốn trên 300 triệu và số lao động trên 50 người.